(Báo cáo của UBND thành phố trình kỳ họp thứ 9, HĐND thành phố khóa 16)
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19-6-2015;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22-11-2019;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22-6-2015;
Căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 18-6-2020;
Căn cứ Luật Bảo hiểm xã hội ngày 20-11-2014;
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 25-6-2015;
I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT
1. Các căn cứ pháp lý
- Tại điểm e khoản 5 Điều 19 Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19-6-2015, HĐND tỉnh có quy định nhiệm vụ, quyền hạn “Quyết định biện pháp thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng; biện pháp thực hiện chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, biện pháp xóa đói, giảm nghèo”;
- Tại khoản 4 Điều 27 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22-6-2015, HĐND cấp tỉnh có thẩm quyền ban hành Nghị quyết để quy định “Biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương”;
- Luật Bảo hiểm xã hội ngày ngày 20-11-2014;
- Luật Ngân sách nhà nước ngày 25-6-2015;
- Nghị định số 134/2015/NĐ-CP ngày 29-12-2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện;
- Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27-1-2021 của Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025;
- Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH ngày 18-2-2016 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện;
- Tại Điều 14 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP ngày 29-12-2015 của Chính phủ quy định:
Người tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện được ngân sách nhà nước hỗ trợ tiền đóng theo tỷ lệ phần trăm (%) trên mức đóng Bảo hiểm xã hội hàng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn (theo Nghị định số 07/2021/NĐ-CP ngày 27-1-2021 của Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025 thì mức chuẩn nghèo ở khu vực nông thôn là 1.500.000 đồng/người/tháng):
+ Bằng 30% đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ nghèo;
+ Bằng 25% đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ cận nghèo;
+ Bằng 10% đối với các đối tượng khác.
Khuyến khích các cơ quan, tổ chức và cá nhân hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và khả năng ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ, Chính phủ sẽ xem xét điều chỉnh mức hỗ trợ tiền đóng cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cho phù hợp.
2. Căn cứ thực tiễn
2.1. Một số tỉnh, thành phố khác
Đã có một số tỉnh, thành phố ban hành chính sách riêng của địa phương hỗ trợ mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng khác.
a. Thành phố Hà Nội
Ngày 6-7-2022, HĐND thành phố Hà Nội ban hành Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐND, trong đó có quy định hỗ trợ mức đóng bảo hiểm xã hội cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2022-2025 là:
- Hỗ trợ thêm 30% đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ nghèo;
- Hỗ trợ thêm 25% đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ cận nghèo;
- Hỗ trợ thêm 10% đối với các đối tượng khác.
b. Tỉnh Hải Dương
Ngày 24-12-2020, HĐND tỉnh Hải Dương ban hành Nghị quyết số 14/2020/NQ-HĐND quyết định hỗ trợ mức đóng bảo hiểm y tế và hỗ trợ bổ sung mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện cho một số nhóm đối tượng trên địa bàn tỉnh Hải Dương, trong đó:
- Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP ngày 29-12-2015 của Chính phủ thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo: Hỗ trợ bổ sung thêm 10% mức đóng bảo hiểm xã hội hàng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn (ngoài 30% mức ngân sách nhà nước đã hỗ trợ đối với người thuộc hộ nghèo, ngoài 25% mức ngân sách nhà nước đã hỗ trợ đối với người thuộc hộ cận nghèo). Thời gian hỗ trợ theo thời gian thực tế tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện từ ngày 1-1-2021 đến hết ngày 31-12-2025.
c. Tỉnh Vĩnh Phúc
Ngày 17-7-2020, HĐND tỉnh Vĩnh Phúc ban hành Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐND quy định chính sách hỗ trợ người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2020-2025, trong đó:
- Hỗ trợ thêm 30% đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ nghèo;
- Hỗ trợ thêm 25% đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ cận nghèo;
- Hỗ trợ thêm 10% đối với các đối tượng khác.
d. Tỉnh Quảng Nam
Ngày 8-12-2021, HĐND tỉnh Quảng Nam ban hành Nghị quyết số 41/2021/NQ-HĐNDvề Quy định chính sách hỗ trợ mức đóng cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2022 – 2025, trong đó:
- Hỗ trợ thêm 10% đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo;
- Hỗ trợ thêm 5% đối với đối tượng khác.
Một số thành phố trực thuộc Trung ương như: thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ chưa triển khai nâng mức hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện cho một số nhóm đối tượng.
2.2. Đối với thành phố Hải Phòng
Từ khi thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22-11-2012 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012-2020; Nghị định số 134/2015/NĐ-CP ngày 29-12-2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện. Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố tập trung, tích cực, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo về công tác bảo hiểm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đảm bảo an sinh xã hội.
UBND thành phố ban hành Quyết định số 3045/QĐ-UBND ngày 21-10-2021 về giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội cho các quận, huyện giai đoạn 2021-2025, trong đó chỉ tiêu số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện năm 2023 là 47.055 người, năm 2024 là 62.108 người, năm 2025 là 83.219 người.
Theo số liệu của cơ quan Bảo hiểm xã hội thành phố đến thời điểm năm 2021 toàn thành phố có 22.432 người tham gia đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện (ngân sách nhà nước hỗ trợ khoảng 4.367 triệu đồng). Trong đó có 18 người thuộc hộ nghèo, 95 người thuộc hộ cận nghèo và 22.319 đối tượng khác tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Trong 6 tháng đầu năm 2022, toàn thành phố có 23.537 đối tượng đang tham gia đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện (ngân sách nhà nước hỗ trợ khoảng 2.900 triệu đồng). Trong đó có 45 người thuộc hộ nghèo, 111 người thuộc hộ cận nghèo và 23.381 đối tượng khác tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Việc hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội của nhà nước đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện mới chỉ được áp dụng từ ngày 1-1-2018 với mức hỗ trợ từ 10%- 30% mức đóng bảo hiểm xã hội hàng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn tùy từng đối tượng. Nguyên nhân đối tượng tham gia đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện chưa cao do nhận thức của người lao động, người dân vẫn còn nhiều hạn chế, chưa muốn tham gia, mức hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện theo quy định tại Nghị định số 134/2015/NĐ-CP ngày 29-12-2015 của Chính phủ còn thấp, chưa thực sự thu hút người dân tham gia, đặc biệt là các nhóm đối tượng lao động có thu nhập thấp như người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo và nhóm đối tượng khác. Vì vậy cần có những chính sách hỗ trợ thêm từ ngân sách thành phố để khuyến khích, thu hút các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Hải Phòng là thành phố đô thị loại 1, thành phố trực thuộc Trung ương, hiện nay có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, quy mô được mở rộng, cơ cấu chuyển dịch đúng hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là trong thời gian gần đây, nguồn thu ngân sách của thành phố đã được cải thiện. Tăng trưởng kinh tế đã tạo thêm nhiều nguồn lực để thành phố thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội nói chung, tạo điều kiện thuận lợi cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, người gặp rủi ro, người dân có hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống …được hỗ trợ kịp thời, được cải thiện cuộc sống cả về vật chất và tinh thần. Việc nâng mức hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện cho một số nhóm đối tượng trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2023- 2025 là thực hiện tốt chủ trương “Đầu tư cho an sinh, phúc lợi xã hội đi trước một bước so với phát triển kinh tế”, tăng tỷ lệ người dân nghèo, người thuộc nhóm đối tượng khác tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, tăng tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện nhằm đạt mục tiêu, chỉ tiêu Chính phủ giao cho thành phố đến năm 2025, góp phần hỗ trợ tích cực cho giảm nghèo bền vững.
Phù hợp với các quy định hiện hành, bảo đảm sự thống nhất của hệ thống văn bản pháp luật của thành phố, UBND thành phố trình HĐND thành phố ban hành Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ thêm mức đóng bảo hiểm xã hội cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2023 – 2025.
II. MỤC ĐÍCH, QUAN ĐIỂM BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT
1. Mục đích
- Quy định chính sách hỗ trợ thêm mức đóng bảo hiểm xã hội cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2023 – 2025
- Quy định những nội dung thuộc thẩm quyền của HĐND thành phố.
- Nhằm nâng cao tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội.
2. Quan điểm ban hành Nghị quyết
- Phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành.
- Đúng quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của thành phố và khả năng cân đối ngân sách.
- Bảo đảm chính sách được thực hiện ổn định, không phát sinh thêm thủ tục hành chính.
III. QUÁ TRÌNH BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT
UBND thành phố đã chỉ đạo Sở Lao động -Thương binh và Xã hội chủ trì, tham mưu xây dựng dự thảo Nghị quyết theo đúng quy định về trình tự, thủ tục xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đã gửi xin ý kiến các các sở, ngành, đơn vị, cơ quan có liên quan và đăng tải trên Cổng Thông tin điện tử thành phố; tổng hợp tiếp thu, giải trình các ý kiến tham gia và gửi hồ sơ đến Sở Tư pháp thẩm định theo quy định.
Thực hiện Quyết định số 29/QĐ-HĐND ngày 19-10-2022 của HĐND thành phố chấp thuận đề nghị xây dựng nghị quyết của HĐND thành phố về quy định chính sách hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2023-2025 trên địa bàn thành phố Hải Phòng, Uỷ ban nhân dân thành phố đã chỉ đạo Sở Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì, tham mưu xây dựng dự thảo Nghị quyết theo đúng quy định, rà soát, bổ sung nhóm “đối tượng khác” được quy định tại Điều 2 Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội được hỗ trợ thêm 10% mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện. Nhóm đối tượng được hỗ trợ thêm mở rộng, nhiều người được hỗ trợ hơn, không chỉ tập trung vào nhóm người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo. Để thay đổi phù hợp với nội dung, đối tượng của Nghị quyết, tên của Dự thảo Nghị quyết hiện nay là: “Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ thêm mức đóng bảo hiểm xã hội cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2023-2025”, điều chỉnh thay đổi so với Quyết định số 29/QĐ-HĐND ngày 19-10-2022, Thường trực HĐND thành phố phê duyệt ban hành: “Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2023-2025 trên địa bàn thành phố Hải Phòng”.
Dự thảo Nghị quyết của HĐND thành phố đã được Sở Tư pháp thẩm định tại Báo cáo số 240/BC-STP ngày 14-11-2022 báo cáo thẩm định dự thảo Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ thêm mức đóng bảo hiểm xã hội cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2023-2025.
IV. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHỊ QUYẾT
1. Bố cục dự thảo Nghị quyết gồm 4 điều
- Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng
- Điều 2. Nguyên tắc, chính sách hỗ trợ
- Điều 3. Quy định nguồn kinh phí
- Điều 4. Tổ chức thực hiện
2. Nội dung cơ bản của Nghị quyết
2.1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ thêm mức đóng bảo hiểm xã hội cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2023 – 2025.
2.2. Đối tượng áp dụng
a) Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ nghèo, thuộc hộ cận nghèo, thuộc nhóm đối tượng khác quy định tại Điều 2 Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH.
b) Cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan.
2.3. Nội dung cơ bản của chính sách
Hỗ trợ thêm mức đóng theo tỷ lệ phần trăm (%) trên mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện hàng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn theo từng thời kỳ do Thủ tướng Chính phủ quy định, cụ thể:
2.3.1. Hỗ trợ thêm mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người thuộc hộ nghèo
- Ngân sách thành phố hỗ trợ thêm 30% mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ nghèo (ngoài 30% mức ngân sách nhà nước đã hỗ trợ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 14 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP).
- Dự kiến số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ nghèo:
Dự báo số người thuộc hộ nghèo bình quân 922 người/năm.
Số tiền ngân sách hỗ trợ, cụ thể: 922 người x 1.500.000đ x 22% x 12 tháng x 30% mức hỗ trợ thêm = 1.095.336.000 đồng (tròn số 1.095 triệu đồng).
2.3.2.Hỗ trợ thêm mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người thuộc hộ cận nghèo
- Ngân sách thành phố hỗ trợ thêm 25% mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ cận nghèo (ngoài 25% mức ngân sách nhà nước đã hỗ trợ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 14 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP).
- Dự kiến số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ cận nghèo:
Dự báo số người thuộc hộ cận nghèo bình quân 3.143 người/năm.
Số tiền ngân sách hỗ trợ, cụ thể: 3.143 người x 1.500.000đ x 22% x 12 tháng x 25% mức hỗ trợ thêm = 3.111.526.957 đồng (tròn số 3.112 triệu đồng).
2.3.3.Hỗ trợ thêm mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với nhóm đối tượng khác
- Nhóm đối tượng khác tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH ngày 18-2-2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, bao gồm:
+ Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 03 tháng trước ngày 1-1-2018; người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 1 tháng từ ngày 1-1-2018 trở đi;
+ Người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố;
+ Người lao động giúp việc gia đình;
+ Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ không hưởng tiền lương;
+ Xã viên không hưởng tiền lương, tiền công làm việc trong hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã;
+ Người nông dân, người lao động tự tạo việc làm bao gồm những người tự tổ chức hoạt động lao động để có thu nhập cho bản thân và gia đình;
+ Người lao động đã đủ điều kiện về tuổi đời nhưng chưa đủ điều kiện về thời gian đóng để hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội (trừ trường hợp người lao động đã đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu nhưng thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu không quá 10 năm);
+ Người tham gia khác.
- Ngân sách thành phố hỗ trợ thêm 10% mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc nhóm đối tượng khác theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH ngày 18-2-2016 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội (ngoài 10% mức ngân sách nhà nước đã hỗ trợ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 14 Nghị định số 134/2015/NĐ-CP).
Theo Quyết định số 3045/QĐ-UBND ngày 21-10-2021 của UBND thành phố, dự kiến số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện năm 2023 là 47.055 người, năm 2024 là 62.108 người, năm 2025 là 83.219 người, bình quân mỗi năm là 64.127 người.
- Dự kiến số lượng người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc nhóm đối tượng khác:
Dự báo số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc nhóm đối tượng khác bình quân 60.000 người/năm.
Số tiền ngân sách hỗ trợ, cụ thể: 60.000 người x 1.500.000đ x 22% x 12 tháng x 10% mức hỗ trợ thêm = 23.760.000.000 đồng (23.760 triệu đồng).
3. Giải pháp thực hiện chính sách đã được lựa chọn và lý do lựa chọn
3.1.Giải pháp thực hiện chính sách đã được lựa chọn
- Phương án hỗ trợ: Ngân sách thành phố hỗ trợ thêm kinh phí đóng bảo hiểm xã hội cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Chính sách hỗ trợ thêm kinh phí đóng bảo hiểm xã hội cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là chính sách đặc thù, lý do là biện pháp “bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân”, là biện pháp “thực hiện chính sách an sinh xã hội”, là “chi các chế độ chi ngân sách đối với một số nhiệm vụ chi có tính chất đặc thù ở địa phương ngoài các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do Chính phủ ban hành...phù hợp với khả năng cân đối ngân sách của địa phương”. Theo quy định tại Điều 19 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2019) HĐND cấp tỉnh có nhiệm vụ, quyền hạn: “Ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND tỉnh ” (điểm e khoản 5 Điều 19); “Quyết định biện pháp bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân; bảo vệ và chăm sóc người mẹ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa và có hoàn cảnh khó khăn khác” (điểm c khoản 5 Điều 19); “Quyết định biện pháp thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng; biện pháp thực hiện chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, biện pháp xoá đói giảm nghèo” (điểm e khoản 5 Điều 19). Đồng thời, theo quy định tại điểm h khoản 9 Điều 30 Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 (sửa đổi, bổ sung bởi Luật Doanh nghiệp năm 2020), một trong các nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND các tỉnh là “Quyết định chi các chế độ chi ngân sách đối với một số nhiệm vụ chi có tính chất đặc thù ở địa phương ngoài các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, phù hợp với khả năng cân đối ngân sách của địa phương ”. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 1 Điều 111 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Ủy ban nhân cấp tỉnh có trách nhiệm đề nghị xây dựng Nghị quyết của HĐND.
- Tổ chức thực hiện: Sau khi Nghị quyết được ban hành, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp Sở Tài chính, Bảo hiểm xã hội thành phố, các đơn vị có liên quan và UBND các quận, huyện tham mưu với UBND thành phố ban hành Kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện; trong đó giao nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ngành, đơn vị liên quan tổ chức triển khai thực hiện.
3.2. Lý do lựa chọn
Phương án phù hợp với các quy định pháp luật hiện hành. Bảo đảm chính sách được thực hiện ổn định, không phát sinh thêm thủ tục hành chính. Đúng chủ trương, quan điểm lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng cân đối ngân sách của thành phố.
V. DỰ KIẾN NGUỒN LỰC, ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM CHO VIỆC THI HÀNH NGHỊ QUYẾT SAU KHI ĐƯỢC THÔNG QUA
1. Dự kiến kinh phí hàng năm
a) Hỗ trợ thêm mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ nghèo
922 người x 1.500.000đ x 22% x 12 tháng x 30% mức hỗ trợ thêm = 1.095.336.000 đồng (tròn số 1.095 triệu đồng).
b) Hỗ trợ thêm mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ cận nghèo
3.143 người x 1.500.000đ x 22% x 12 tháng x 25% mức hỗ trợ thêm = 3.111.526.957 đồng (tròn số 3.112 triệu đồng).
c) Hỗ trợ thêm mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc nhóm đối tượng khác
60.000 người x 1.500.000đ x 22% x 12 tháng x 10% mức hỗ trợ thêm = 23.760.000.000 đồng (23.760 triệu đồng)
Tổng kinh phí ngân sách thành phố hỗ trợ thêm mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thuộc hộ nghèo, thuộc hộ cận nghèo, thuộc nhóm đối tượng khác là: 83.901 triệu đồng, bình quân mỗi năm là: 27.967 triệu đồng/năm (Hai mươi bảy tỷ, chín trăm sáu mươi bảy triệu đồng/năm)
2. Nguồn kinh phí
Do ngân sách thành phố bảo đảm theo phân cấp ngân sách hiện hành.
3. Điều kiện đảm bảo cho việc thi hành Nghị quyết sau khi được thông qua các quận, huyện có thể triển khai, thực hiện từ tháng 1-2023.
4. Tổ chức thực hiện
Sau khi Nghị quyết được ban hành, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp Sở Tài chính, Bảo hiểm xã hội thành phố, các đơn vị có liên quan và UBND các quận, huyện tham mưu với UBND thành phố ban hành Kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện; trong đó giao nhiệm vụ cụ thể cho các sở, ngành, đơn vị liên quan tổ chức triển khai thực hiện./.