Quy định pháp luật về giao dịch dân sự

02/08/2023 12:01

Theo Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

- Giao dịch dân sự là hợp đồng:

Hợp đồng được quy định tại Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015: "Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.

- Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương: Hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch dân sự thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm pháp sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự". Theo quy định của pháp luật dân sự có các loại hành vi pháp lý đơn phương sau: hứa thưởng, thi có giải và lập di chúc.

1. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

Theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập.

- Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện.

- Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và sự bày tỏ ý chí. Tự nguyện ở đây bao gồm 2 yếu tố cấu thành đó là tự do ý chí và bày tỏ ý chí, chính vì vậy nếu không có sự tự do ý chí và bày tỏ ý chí sẽ được coi là không có sự tự nguyện. Giao dịch dân sự không có sự tự nguyện về nguyên tắc không làm phát sinh hậu quả pháp lý từ thời điểm giao kết.

Mục đích của giao dịch là những lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó. Nội dung của giao dịch là tổng hợp các điều khoản mà các bên đã cam kết, thỏa thuận trong giao dịch. Những điều khoản này xác định quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh từ giao dịch.

Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể được thực hiện những hành vi nhất định. Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong xã hội được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Ngoài ra, hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định.

2. Hình thức giao dịch dân sự

Hình thức của giao dịch là phương tiện thể hiện nội dung của giao dịch, thông qua phương tiện này chủ thể bên kia và người thứ 3 có thể biết được nội dung giao dịch. Về nguyên tắc, hình thức chỉ là điều kiện khi pháp luật có quy định.

Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định giao dịch dân sự có thể được thể hiện dưới 3 hình thức: thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể. Về nguyên tắc, các chủ thể có quyền lựa chọn hình thức của giao dịch khi pháp luật không bắt buộc.

Giao dịch bằng lời nói là hình thức phổ biến trong xã hội, có mức độ xác thực thấp nên thường được áp dụng cho các giao dịch thực hiện ngay và chấm dứt ngay sau đó hoặc giữa những người có quan hệ thân quen. Trong một số điều kiện nhất định giao dịch dân sự thể hiện dưới hình thức miệng phải tuân theo điều kiện nhất định do pháp luật quy định như trường hợp lập di chúc miệng.

Giao dịch bằng văn bản bao gồm:Văn bản thường và văn bản có công chứng, chứng thực hoặc văn bản phải đăng ký. Hình thức bằng văn bản có giá trị xác thực cao hơn, là chứng cứ hữu hiệu khi phát sinh tranh chấp. Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

Giao dịch bằng hành vi: Pháp luật dân sự thừa nhận giao dịch dân sự có thể được xác lập thông qua hành vi theo quy ước định trước. Ví dụ, mua nước ngọt tự động, rút tiền tự động…

Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó. Ví dụ, hợp đồng mua bán nhà, pháp luật yêu cầu phải thực hiện bằng văn bản phải công chứng hoặc chứng thực. Trong một số trường hợp pháp luật còn yêu cầu giao dịch dân sự phải đăng ký thì thời điểm hoàn thành thủ tục đăng ký mới là thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng. Ví dụ, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng trồng hay thế chấp một tài sản để đảm bảo thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự.

3. Giao dịch dân sự vô hiệu

Pháp luật đã quy định cụ thể bốn điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự thì vô hiệu, trừ trường hợp luật có quy định khác.

a) Các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu:

Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định 7 trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu bao gồm:

- Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội (Điều 123);

- Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo (Điều 124). Giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo gồm 2 loại: được xác lập một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác hoặc được xác lập nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba.

- Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện (Điều 125);

- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn (Điều 126).

- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (Điều 127).

- Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình (Điều 128).

- Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức (Điều 129).

Tuy nhiên, trên cơ sở tôn trọng thực tế thực hiện giao dịch và ý chí đích thực của chủ thể trong giao dịch, bảo đảm sự ổn định của giao dịch dân sự, các quan hệ liên quan và hạn chế sự không thiện chí của một bên trong việc lợi dụng việc không tuân thủ quy định về hình thức để không thực hiện cam kết của mình, pháp luật quy định các ngoại lệ để Tòa án công nhận giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức theo yêu cầu của một bên hoặc các bên trong giao dịch gồm:

- Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó.

- Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

b) Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu  

Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện; do bị nhầm lẫn; do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; do không tuân thủ quy định về hình thức là 2 năm, kể từ ngày:

- Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;

- Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;

- Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;

- Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;

- Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức. Đối với giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội; do giả tạothì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu không bị hạn chế.

c) Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu:

Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan quy định.

d) Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

- Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng đối tượng của giao dịch là tài sản không phải đăng ký đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 167 của Bộ luật D ân sự; cụ thể là chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.

- Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.

Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.

- Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ người thứ ba ngay tình, nếu giao dịch dân sự với người này không bị vô hiệu nhưng có quyền khởi kiện, yêu cầu chủ thể có lỗi dẫn đến việc giao dịch được xác lập với người thứ ba phải hoàn trả những chi phí hợp lý và bồi thường thiệt hại./.

(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Quy định pháp luật về giao dịch dân sự