Lao động giúp việc gia đình được nghỉ làm việc bình quân ít nhất 4 ngày/ tháng (Ảnh minh họa)

(HPĐT)- Ngày 14-12-2020, Chính phủ ban hành Nghị định số 145/2020/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động; trong đó có quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành khoản 2 Điều 161 của Bộ luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình. Nghị định số 145/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 01-02-2021. “Phụ trương pháp luật thành phố Hải Phòng” xin giới thiệu một số nội dung cơ bản của Nghị định này.
Lao động là người giúp việc gia đình
Là người làm việc cho người sử dụng lao động (NSDLĐ) theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của NSDLĐ, làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình. Các công việc trong gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ em, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình nhưng không liên quan đến hoạt động thương mại.
Lao động là người giúp việc gia đình có giao kết hợp đồng lao động (HĐLĐ) bằng văn bản để làm những công việc theo quy định của Bộ luật Lao động.
Các trường hợp chấm dứt hợp đồng mà không phải báo trước
Trong quá trình thực hiện HĐLĐ, mỗi bên có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà không cần lý do nhưng phải báo trước ít nhất 15 ngày, trừ các trường hợp nêu sau:
- Người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ vì các lý do: Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận; không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn; bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động; bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc; lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định của Bộ luật Lao động; đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật Lao động trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực làm ảnh hưởng đến việc thực hiện HĐLĐ;
NSDLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ vì các lý do: Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định của Bộ luật Lao động; người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;
Mức lương theo công việc không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố
Người lao động và NSDLĐ thỏa thuận về tiền lương, thưởng và thực hiện trả lương, thưởng theo quy định của Bộ luật Lao động, trong đó tiền lương của người lao động thỏa thuận trong HĐLĐ theo quy định của Bộ luật Lao động bao gồm mức lương theo công việc, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác nếu có.
Mức lương theo công việc bao gồm cả chi phí tiền ăn, ở của người lao động tại gia đình NSDLĐ (nếu có) không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố. NSDLĐ và người lao động thỏa thuận mức chi phí ăn, ở hằng tháng của người lao động (nếu có), tối đa không quá 50% mức lương theo công việc ghi trong hợp đồng lao động.
Lao động là giúp việc gia đình được nghỉ bình quân 01 tháng ít nhất 04 ngày
Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi thực hiện theo quy định của Bộ luật Lao động, trong đó thời gian nghỉ ngơi trong ngày làm việc bình thường, ngày nghỉ hằng tuần được thực hiện như sau:
Vào ngày làm việc bình thường, ngoài thời giờ làm việc thỏa thuận trong HĐLĐ theo quy định, NSDLĐ phải bảo đảm, tạo điều kiện cho người lao động được nghỉ ít nhất 8 giờ, trong đó có 6 giờ liên tục trong 24 giờ liên tục;
Người lao động được nghỉ hằng tuần theo quy định của Bộ luật Lao động, trường hợp NSDLĐ không thể bố trí nghỉ hằng tuần thì phải bảo đảm cho người lao động được nghỉ tính bình quân 1 tháng ít nhất 4 ngày.
Lao động là giúp việc gia đình được trả khoản tiền bằng mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế
NSDLĐ có trách nhiệm trả cùng lúc với kỳ trả lương cho người lao động một khoản tiền bằng mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật để người lao động chủ động tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
Trường hợp người lao động đồng thời giao kết nhiều HĐLD làm giúp việc gia đình thì trách nhiệm trả tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người sử dụng lao động được thực hiện theo từng HĐLD.
An toàn, vệ sinh lao động
NSDLĐ có trách nhiệm hướng dẫn cách sử dụng máy, thiết bị, đồ dùng, các biện pháp phòng, chống cháy, nổ trong gia đình có liên quan đến công việc của người lao động; trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động trong quá trình làm việc;
Khi người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, người sử dụng lao động phải thực hiện các trách nhiệm đối với người lao động theo quy định của Luật An toàn, vệ sinh lao động;
Người lao động có trách nhiệm chấp hành đúng hướng dẫn sử dụng máy, thiết bị, đồ dùng và phòng, chống cháy, nổ; bảo đảm các yêu cầu vệ sinh môi trường của hộ gia đình, dân cư nơi cư trú./.
Đức Thành