Rõ thực trạng, sáng giải pháp, đưa du lịch Hải Phòng vượt lên thách thức

10/07/2017 10:40

Nhìn thẳng thách thức hiện diện

Tập trung nguồn lực phát triển thế mạnh du lịch biển đảo, sớm đưa du lịch Hải Phòng thành ngành kinh tế mũi nhọn.

Dự thảo Đề án về nhiệm vụ và giải pháp phát triển du lịch Hải Phòng giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm 2030 (dưới đây gọi tắt là đề án) được hình thành trong bối cảnh thành phố và cả nước có những lợi thế mới, điều kiện mới để đẩy mạnh phát triển lĩnh vực này. Ngày 16-1-2017, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 08 xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Kinh tế- xã hội thành phố đang khởi sắc, nhiều lĩnh vực phát triển đột phá. Sở Du lịch tái thành lập. Nhiều doanh nghiệp tiềm lực lớn đầu tư vào thành phố. Hệ thống công trình hạ tầng đô thị, mạng giao thông được mở rộng, hiện đại, thuận lợi.

Nhìn chung dự thảo đề án thể hiện được những nội dung cơ bản về phát triển du lịch Hải Phòng trong ba năm tới và tầm nhìn suốt 13 năm, tới 2030. Đề án lựa chọn và đi sâu vào một số vấn đề được xem là trọng tâm có thể tạo ra sự phát triển bứt phá mới.

Ở phần đánh giá thực trạng, dự thảo đề án thể hiện đầy đủ nội dung "được và chưa được" trong phát triển ngành du lịch thành phố. Tuy vậy, phần này mới làm rõ định tính, thiếu định lượng. Cụ thể, dự thảo nêu du lịch Hải Phòng "chưa khẳng định được vị trí, lợi thế so sánh trong vùng và khu vực", cần xác định rõ hiện du lịch thành phố đứng ở thứ bậc nào, ở vị trí thứ mấy trong bảng xếp hạng sức hấp dẫn du lịch trong nước. Người Hải Phòng tự hào về một thuở huy hoàng của ngành du lịch đất Cảng. Có thời điểm nói đến du lịch Việt Nam, người ta nghĩ đến Đồ Sơn, nhiều người ước ao đến tham quan Đồ Sơn. Song hiện tại, du khách đổ về các địa danh du lịch đa dạng, cuốn hút khác. Chưa bao giờ cả nước lại xuất hiện nhiều điểm đến hấp dẫn, nhiều tỉnh, thành phố vượt lên, rầm rộ làm du lịch nhanh, mạnh đến vậy.

Hải Phòng chậm phát triển du lịch có phải chủ yếu do hai nguyên nhân: nhận thức và cơ chế, chính sách - như thực trạng chung của du lịch cả nước nêu trong dự thảo đề án? Cần những luận cứ có căn cứ thực tiễn và khoa học để chứng minh thuyết phục hơn về đánh giá này.

Tương tự như vậy, về chỉ tiêu đánh giá tình hình phát triển du lịch, đề án nêu tổng thể: năm 2016, Hải Phòng đạt xấp xỉ 6 triệu lượt du khách đến, hầu hết là khách nội địa. Nội dung đó cần được phân tích kỹ hơn, có những chỉ số cần thiết để đánh giá đúng hiệu quả thực hiện... Cụ thể là, thứ hạng bình xếp của du lịch Hải Phòng so với trong nước, trong vùng và khu vực; số lượt du khách đến, bình quân ngày lưu trú, mức chi tiêu đầu khách, v.v...Nội dung này không chỉ cần có trong phần đánh giá hiệu quả việc đã làm, mà còn cần xây dựng thành chỉ tiêu phấn đấu cụ thể ở mỗi giai đoạn để thành phố tập trung tổ chức thực hiện. Người trong ngành cũng khái quát các chỉ số hiệu quả du lịch bằng cụm từ phổ thông dễ nhớ, dễ làm là: “Vào sâu- ở lâu- ra chậm - tiêu nhiều”. Ở phần đầu, đề án có nêu điều mong muốn này, nhưng chưa bổ khuyết cụ thể vào đề án, kể cả trong phương hướng phát triển!

Về hệ thống dịch vụ du lịch, đề án đưa ra con số thống kê về cơ sở lưu trú du lịch, về số phòng, nhưng chỉ dừng ở thời điểm hết năm 2006, là quá lạc hậu, chưa đủ độ xác thực làm cơ sở cho việc hoạch định bước phát triển tiếp trong các năm sau.

Phần Công tác quy hoạch... có đoạn nêu không hợp lý: "thành phố có 17 dự án đầu tư phát triển hạ tầng du lịch thuộc vốn ngân sách.... Trong đó, 34 dự án ngoài ngân sách..."- đề nghị thay hai từ trong đó bằng từ và để thể hiện đúng nội dung diễn đạt .

Dự thảo đề án cũng chưa phân tích, đánh giá rõ hiệu quả 51 dự án đầu tư phát triển hạ tầng du lịch giai đoạn 10 năm 2006-2016 (với tổng số hơn 53 nghìn tỷ đồng vốn trong và ngoài ngân sách thành phố đầu tư). Bao nhiêu dự án yếu vốn nên còn "đắp chiếu", còn "treo", bao nhiêu công trình vì chệch nhu cầu, sai khoảng cách, địa điểm nên bỏ lửng, chậm tiến độ so với kế hoạch? Đơn cử, dự án của DASO ở khu 2 Đồ Sơn. Cũng cần rà soát xem có công trình nào ảnh hưởng xấu đến an ninh- quốc phòng?...

Tương tự như vậy, các phần về quảng bá, xúc tiến, sản phẩm, thương hiệu- nhất là nhân lực du lịch- đều khái quát cao đến mức sơ lược, nặng về định tính hơn định lượng.

Tuy vậy, chúng tôi tán đồng với phần đánh giá tổng quan về tình hình phát triển du lịch của thành phố trong giai đoạn 2006-2016. Với tinh thần nói thẳng nói thật, đề án nêu rõ cả mặt được và chưa được của thực trạng du lịch Hải Phòng. Từ đánh giá đó, nếu thành phố tập trung phát huy ưu điểm; khắc phục mặt hạn chế, chắc chắn du lịch Hải Phòng nhanh chóng khởi sắc. Ở phần nguyên nhân chủ yếu gây hạn chế, đề án khẳng định là do một số cấp ủy Đảng, chính quyền chưa nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò của du lịch và do thiếu các cơ chế, chính sách đủ mạnh để tạo bứt phá... Đó là sự khẳng định tự tin, rõ trọng tâm, có bản lĩnh, dám chấp nhận thực tế. Song, phần nêu "hạn chế về nhận thức" như vậy còn chung chung, sơ lược, cần làm rõ hơn.

Con đường bứt phá

Về nội dung phát triển du lịch Hải Phòng trong những năm tới, phần mở đầu đề án nên có mục Dự báo tình hình liên quan trong 3 năm tới và tầm nhìn 10 năm kế tiếp (đến 2030). Bởi lẽ, đây là những tác động thực tế để tham khảo, có thêm căn cứ xác thực đề ra nội dung phù hợp cho đề án.

Về mục tiêu tổng quát, dự thảo đề án nêu phù hợp. Căn cứ vào định hướng phát triển du lịch của trung ương và thành phố gần đây, đề nghị đưa vào mục tiêu tổng quát một định hướng quan trọng. Đó là: Tập trung nguồn lực phát triển thế mạnh du lịch biển đảo, sớm đưa du lịch Hải Phòng thành ngành kinh tế mũi nhọn, xây dựng thành phố trở thành trung tâm du lịch của vùng Duyên hải Bắc bộ.

Cùng với mục tiêu tổng quát, đề án có mục tiêu cụ thể để xác định một số công việc, chỉ tiêu quan trọng cần thực hiện bằng được. Ví du, đến năm 2020, thành phố có một di sản thiên nhiên thế giới (quần đảo Cát Bà); đến năm 2025, có thêm một di tích quốc gia đặc biệt, 5-6 di tích xếp hạng quốc gia...Năm 2020, đạt 7,5-8 triệu lượt khách, trong đó có 1,1-1,2 triệu lượt khách quốc tế; doanh thu du lịch là...; tổng nguồn vốn đầu tư là…v.v... Đây chính là những chỉ tiêu vừa được thành phố hoạch định. Cũng chính là căn cứ rõ ràng xác định mức độ hiện thực hóa đề án như thế nào.

Về nhiệm vụ, giải pháp, cần xác định rõ đâu là nhiệm vụ, giải pháp mũi nhọn, để tập trung thực hiện tạo bứt phá. Công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức được xác định là phần nhiệm vụ, giải pháp quan trọng hàng đầu, nhưng lại chưa được thể hiện rõ nét, nhất là đối với nội dung chủ yếu cần khắc phục là nhận thức chưa tới tầm về vai trò, vị trí của du lịch trong một số cấp ủy Đảng, chính quyền. Đây là lực lượng quan trọng trong chỉ đạo, tổ chức và tạo điều kiện phát triển một lĩnh vực được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Ngoài ra, tất cả nội dung nâng cao nhận thức chỉ vỏn vẹn trong 9 dòng là chưa thỏa đáng và tương xứng. Trong khi, phần nhiệm vụ, giải pháp về cơ chế, chính sách được xây dựng rất rõ ràng, chi tiết, có đầu tư cao “chất xám” cho 4 nhóm cơ chế, chính sách phát triển du lịch. Riêng phần này chiếm khoảng 4 trang rưỡi trong tổng số gần 12 trang của đề án tóm tắt. Các cơ chế, chính sách này cần được các chuyên gia thẩm định về hiệu lực, khả năng thực thi và sự phù hợp với nguồn lực tổng hợp của thành phố. Nhất là cơ chế, chính sách phải hướng đến mục tiêu tạo ra nguồn lực. Thậm chí, cơ chế, chính sách mới cần được thử nghiệm ở quy mô nhỏ để kiểm nghiệm, đánh giá hiệu quả trên thực tế, từ đó tạo cơ sở để quyết định có nhân rộng hay không? Nhìn chung, dư luận ghi nhận sự nỗ lực từ cơ quan tham mưu xây dựng.

Bên cạnh đó, các phần khác khá sơ lược. Đơn cử, như phần về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực còn chung chung, chưa chỉ rõ được những ngành nghề, lĩnh vực cần tập trung đào tạo cho phù hợp với nội dung mục tiêu xác định. Trong đó, dường như chưa quan tâm đến nguồn lực công nghệ thông tin, về thế mạnh có nhiều người đẹp đoạt giải trong các cuộc thi sắc đẹp của Hải Phòng... Cũng cần thể hiện rõ trong Nghị quyết của HĐND thành phố về mối quan hệ giữa hoạt động khai thác khoáng sản với phát triển du lịch- như bảo tồn một số núi đá vôi, hang động… là danh lam thắng cảnh phục vụ du lịch ở Hải Phòng, như Nghị quyết về điều chỉnh quy hoạch thăm dò, khai thác và sử dụng khoáng sản trên địa bàn thành phố đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được HĐND thành phố khóa 14, kỳ họp thứ 12 thông qua.

Cơ quan làm đề án cũng nên cập nhật nhanh các thông tin, định hướng và văn bản chỉ đạo mới, gần đây nhất là Quyết định 1309 phê duyệt Quy hoạch phát triển văn hóa, thể thao, du lịch Hải Phòng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 vừa được UBND thành phố ban hành. Trong đó, có nhiều nội dung và chỉ tiêu cụ thể liên quan đến ngành du lịch địa phương, để tiếp thu, vận dụng kịp thời vào đề án.

Đề án nên xác định rõ lộ trình thực hiện cụ thể, chọn lựa, xây dựng một số đề tài nhánh đi sâu vào những nội dung nòng cốt để tăng tính khả thi trong tổ chức thực hiện, chẳng hạn, đầu tư phát triển du lịch kinh tế biển, phát triển du lịch quần đảo Cát Bà và bán đảo Đồ Sơn; phát triển du lịch bền vững, khắc phục tình trạng hoạt động lệ thuộc mùa vụ, vv...

Tóm lại, nguyên tắc chung để đề án thành công là có định hướng đúng, các nhiệm vụ, giải pháp đề ra có tính khả thi, vừa khắc phục được yếu kém, hạn chế, vừa phát huy được nguồn lực tổng hợp để tạo sức phát triển mạnh mẽ, thực hiện thắng lợi mục tiêu đề ra.

Nhìn sang kinh nghiệm các địa phương bạn, tỉnh Quảng Ninh trước đây có lúc du khách Trung Quốc ồ ạt đổ sang khiến cơ sở dịch vụ đột biến quá tải nhiều lần. Hướng dẫn viên đủ kinh nghiệm và trình độ ngoại ngữ thiếu trầm trọng, thiếu nơi ăn nghỉ, phương tiện đi lại… Cầu vượt cung gây quá tải quản lý; lữ hành “chui” xuất hiện, hướng dẫn viên người nước ngoài hoạt động “chui” khi tác nghiệp bóp méo cả lịch sử Việt Nam! Khu du lịch Bãi Cháy "cháy" phòng, khiến nhiều người dân hối hả đổ tiền xây nhà nghỉ, khách sạn, mua sắm vật dụng... mong đáp ứng. Đùng cái, khách biến đâu hết, nhiều cơ sở du lịch trở nên vắng lặng, nợ nần và để lại một cảnh quan môi trường ngổn ngang... Như vậy, bài toán cung- cầu luôn biến đổi, khó lường. Hải Phòng cũng nên tính đến phương án tập dượt trường hợp xuất hiện “làn sóng” du khách láng giềng ào tới, là thời cơ đi liền với thách thức. Nếu không chuẩn bị trước, khó vượt qua được mà không để lại hậu quả cần khắc phục.

Giờ đây, du lịch Quảng Ninh trở lại nhộn nhịp, thu hút nhiều du khách đến sau khi xây dựng rất nhanh nhiều công trình kiến trúc, khu vui chơi, nghỉ mát, mở nhiều loại hình dịch vụ mới, trong đó có lễ hội Carnaval điểm nhấn; bến tàu du lịch được quy về một mối tại Tuần Châu... tạo ra diện mạo mới, cơ ngơi khá sang trọng, thu hút đa dạng hơn, bền hơn nhiều nguồn du khách cho vùng than hiếu khách này. Vì vậy, du khách vẫn là đối tượng tối thượng cần được hiểu kỹ để phục vụ hiệu quả cao. Không có khách là không có du lịch; không đáp ứng tốt, phù hợp nhu cầu của du khách sẽ không có nguồn thu, hoặc khách "chỉ một đi mà không trở lại...!" . Vì vậy trong các giải pháp, sở chuyên ngành nên hình thành bộ phận chuyên trách nghiên cứu về du khách, tập trung thống kê và phân tích dữ kiện, tìm ra quy luật đến và đi, sở thích và ý muốn của từng loại khách... Từ đó, cung cấp dữ liệu làm cơ sở để cấp lãnh đạo có quyết sách tối ưu xác định phương cách hành động phù hợp, đạt hiệu quả cao. Ví dụ như trong việc lựa chọn “thượng đế”, chúng ta chỉ phục vụ số ít du khách sang nhưng chi tiêu nhiều, hay phục vụ số đông khách bình dân tiêu ít tiền, lời nhỏ gộp thành lãi lớn; hoặc là chọn cung ứng dịch vụ đa dạng đáp ứng cả hai loại đối tượng trên. Từ sự chọn lựa đó mà xác định những yếu tố phù hợp trong đầu tư nguồn lực, đào tạo và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, về loại hình phương thức dịch vụ, đáp ứng trúng, đúng, đủ các nhu cầu về vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi,.... Đồng thời, cần tìm hiểu rõ về văn hóa, ngôn ngữ, tâm linh, ẩm thực, tôn giáo, tín ngưỡng... của đối tượng phục vụ để khai thác hiệu quả cao nhất. Đơn cử, nhiều du khách nước ngoài thích đến những vùng hoang sơ hoặc nơi "hương đồng, gió nội", hơn là tới đô thị, cơ sở nghỉ dưỡng sang trọng, tiện nghi... Tất cả việc đó là hành trình gian nan, đòi hỏi sự năng nổ tìm tòi, săn lùng bí quyết làm nghề... không phải phút chốc có được. Bài học của các tỉnh Quảng Ninh, Ninh Bình, của Đà Nẵng, Quảng Nam... cũng là bài học của Hải Phòng. Người nắm bắt, thu lượm, lĩnh hội nhanh, vận dụng phù hợp sẽ thua ít, thắng nhiều.

Tận dụng tối đa sự khác biệt và vai trò cộng đồng

Ở Việt Nam, vai trò của các ngành, cấp, địa phương...là vô cùng quan trọng trong phát triển ngành du lịch, khi có trách nhiệm rất lớn trong việc xử lý, giải quyết các “sự vụ” xảy ra trong đời sống hằng ngày nhưng đều có tác động tích cực/tiêu cực đến du lịch. Mỗi tai nạn, sự cố, sự vụ xảy ra: từ va chạm ô tô, tàu đắm, tắc đường, ô nhiễm môi trường, đuối nước, mất tích, hỏa hoạn, cướp giật, lừa đảo, “chặt chém” giá, ngộ độc thức ăn, an toàn thực phẩm, dịch bệnh, thậm chí sự cố ở lễ hội chọi trâu, cả việc rầy rà thủ tục hành chính, thái độ kém thân thiện trong cộng đồng..., chưa tính đến các thảm họa thiên nhiên bất ngờ như bão, lũ, động đất, sóng thần… không báo trước, không do ngành du lịch quản lý, nếu đột nhiên xảy ra, đều dẫn đến mất khách du lịch. Để xây dựng, duy trì hạ tầng du lịch như cơ sở lưu trú, nhà hàng, khách sạn, điểm di tích văn hóa, lịch sử, hoạt động lễ hội, trò dân gian, sản phẩm làng nghề, ẩm thực miền biển, phải có nhiều nguồn lực, nhiều thành phần kinh tế, nhiều loại hình du lịch và thậm chí có lúc, có việc cả cộng đồng tham gia mới đảm đương nổi. Với vai trò quan trọng hàng đầu như vậy, không có lý gì vấn đề liên kết, phối hợp các ngành, cấp, địa phương... không được đề cập, đưa thành một nội dung lớn trong đề án. Nhân đây, Hải Phòng có hai cơ sở mới là Khu sinh thái An Thái (An Lão) và Khu nông nghiệp công nghệ cao Tân Liên (Vĩnh Bảo) khá ấn tượng, Sở Du lịch nên đưa địa chỉ vào bản đồ giới thiệu du lịch của Hải Phòng...

Tóm lại, cần rà soát đề án đã đề cập đúng mức độ về sự phối hợp giữa các ngành, địa phương thành phố, với các tỉnh bạn, với Trung ương - cả về nhận thức và hành động- trong chung tay phát triển ngành du lịch Hải Phòng chưa? Cần lập một Ban điều hành chung để thực hiện liên kết du lịch mà lãnh đạo Sở chuyên ngành là “Phó thường trực”. Từ đó xây dựng nên hệ thống liên kết, chia sẻ tua tuyến, hình thành chuỗi giá trị cung ứng dịch vụ du lịch vượt khỏi phạm vi thành phố. Rõ ràng, một ngành du lịch không thể phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố nếu không phát huy được sức mạnh tổng hợp của cả cộng đồng -mà ngành phải là nòng cốt. Thực tế cho thấy, muốn bảo tồn di sản, phải gắn được lợi ích của người dân với di sản. Di sản phải tạo ra việc làm, tạo thu nhập cho người dân. Cộng đồng tại chỗ sẽ gắn bó với việc bảo vệ môi trường, tham gia trùng tu, tôn tạo và bảo vệ hiệu quả cao di sản. Làm tốt mối liên kết, phối hợp trong phát triển du lịch phải được coi là một trong số nhiệm vụ, giải pháp hàng đầu, cốt tử trong tổ chức thực hiện.

Hải Phòng được Trung ương cho phép đi đầu mở ca-si-nô Đồ Sơn từ năm 1995, đến nay vẫn là một trong số rất ít địa phương có loại hình dịch vụ này, đó là lợi thế lớn. Trong bối cảnh mới, thành phố nên chăng đề xuất với Trung ương chấp thuận cho một cơ chế mới để Hải Phòng mở rộng hoạt động trong lĩnh vực này. Qua đó, có thể chủ động biến lợi thế thành sự khác biệt, tăng sức cạnh tranh.

Sẽ là thiếu nếu không đề cập loại hình du lịch tâm linh, trong đó bao gồm cả di tích văn hóa, lịch sử, các “địa chỉ đỏ”...Gần đây, tại thành phố xuất hiện lặng lẽ mà cuốn hút Khu di tích lịch sử Bạch Đằng Giang (Tràng Kênh, Thủy Nguyên)- nơi ghi dấu ba cuộc thủy chiến lừng lẫy đánh tan quân xâm lược phương Bắc của dân tộc ta trên sông Bạch Đằng. Ghi nhận ở đây một cách làm hiệu quả cao, hợp lòng dân. Du khách từ khắp nơi tụ hội về đây tri ân, tưởng niệm, hun đúc truyền thống dân tộc... ngày càng đông. Như vậy, chứng tỏ Hải Phòng vẫn có sức cuốn hút nội tại, có thể mở mang, phát huy thế mạnh sẵn có trên địa bàn. Quan trọng là ở cách nghĩ, cách làm… Người Hải Phòng vẫn đi du lịch Côn Đảo, Phú Quốc, thăm nghĩa trang Trường Sơn, đền Bà Chúa Xứ, thậm chí sang Thái Lan, Mi-an-ma, Ma-lai-xi-a... mà vẫn nhớ về, say mê với Cát Bà, Đồ Sơn, với khu di tích Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, với Núi Voi, đồi Thiên Văn...quê mình. Hải Phòng có Viện Hải dương học, có biển liền kề, có nhiều nhà đầu tư tiềm lực lớn, vậy làm thế nào để xây dựng được một thủy cung hoành tráng tại Đồ Sơn với muôn vàn sinh vật biển xinh đẹp phô sắc, khoe loài...thêm điểm hấp dẫn thu hút du khách... ?

Môi trường tốt thực sự là một sản phẩm du lịch quý. Bảo vệ tốt di sản chính là góp phần phát triển du lịch bền vững. Dứt khoát, chúng ta không vì phát triển du lịch mà hủy hoại môi trường sống. Hải Phòng cũng cương quyết không vì lợi ích kinh tế trước mắt mà phá vỡ sự cân bằng sinh thái, làm mất đi vùng sinh quyển, nguồn gen đa dạng và quý báu, là những di sản vô giá cho con cháu muôn đời sau.

QUÔC HÒA

(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Rõ thực trạng, sáng giải pháp, đưa du lịch Hải Phòng vượt lên thách thức