Rời quân y viện

Truyện ngắn của THÁI CHÍ THANH 23/12/2022 16:14

(HPĐT)- Truyện đem đến một hiện thực lạ lẫm và thú vị. Cái tôi nhân vật lần lượt dẫn dắt người đọc vào một không gian nghệ thuật đặc biệt, nơi dường như chỉ có những người còn sót lại sau chiến tranh với những câu chuyện rất đỗi thân quen mà lạ lùng xảy ra trên suốt đoạn đường trở về đơn vị. Quãng đường từ Quân y viện đến Tiểu đoàn 19 ngắn ngủi là thế mà cũng xảy ra khối chuyện đáng kể. Nếu tiếp tục đi theo bước chân của cái tôi nhân vật - người lính trong truyện ngắn này, bạn đọc hẳn sẽ phải theo dõi trường kỳ mới… hết chuyện. Điều này cho thấy, chiến tranh với muôn mặt hiện thực bí ẩn, vẫn luôn hấp dẫn bạn đọc nhiều thế hệ.

Minh họa: Đặng Tiến

Nhà văn Nguyễn Đình Tú

Đó là những năm cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Sau ba tuần điều trị, tôi và hai đồng đội cùng đơn vị là Tiến và Cần xuất viện.

Chúng tôi tìm đường lên Tà Cơn vì được tin đơn vị đang chuyển ra vùng ấy.

Đang cuối đông, trời se se lạnh, vậy mà áo ba đứa thấm mồ hôi, đành tìm nơi nghỉ ngơi, kiếm cái lót dạ. Đến đầu một làng khá trù phú, chúng tôi thấy kho gạo mới dựng, chỉ che chắn bằng những tấm tôn rất sơ sài. Nhìn quanh chẳng thấy ai, chúng tôi bèn lẻn vào “xin” ít phòng đường xa. Vừa lấy xong, tôi đang cột lại miệng bao tải gạo vơi non nửa để xếp vào chỗ cũ thì có tiếng quát:

- Ê! Giơ tay lên!

Tôi giật mình, nhìn ra cửa kho, thấy hai cô gái đang chĩa hai khẩu AR.15 vào chúng tôi, vẻ mặt rất nghiêm trọng.

Tôi lúng túng:

- Ấy. Hạ súng xuống kẻo lỡ... Bọn tôi chỉ xin ít gạo đi đường.

- Đứng im! - Một cô gái to cao, ra dáng chỉ huy quát rồi xăm xăm tiến đến gần ba anh em tôi, trong tay vẫn lăm lăm khẩu súng - Các người là ai?

- Chúng tôi là bộ đội giải phóng. Chẳng lẽ mấy o không thấy à. - Cần vừa nói vừa chỉ vào ba lô, quân phục của chúng tôi.

Một cô trẻ, nhỏ người hơn, giọng lạnh tanh:

- Ai biết được các người là giải phóng hay Việt gian!

- Giấy tờ các anh đâu?

- Cô chỉ huy cắt ngang.

- Có chứ. Chúng tôi có giấy ra viện.

- Đưa coi!

Đoán đây là du kích làng mới thành lập sau ngày giải phóng, rất máy móc, lơ mơ ăn đạn thì thật ngớ ngẩn, nên ba chúng tôi đành theo lệnh. Cần và tôi móc tìm được hai tờ giấy ra viện màu nâu, chỉ to bằng bao thuốc lá, đã ít thông tin lại nhiều dòng bệnh viện bỏ trống. Còn Tiến lui hui mãi cũng không thấy, cứ ngơ ngác.

- Cái giấy chi chi mà kỳ cục - Cô chỉ huy xem đi xem lại rồi nhìn tôi - Giấy ni ai mà nỏ làm giả được, cái triện cũng không có.

- Thì có chữ ký của bệnh viện trưởng kia thôi. - Tôi giải thích.

- Hứ! Chữ ký ni ai mà nỏ ký được. Nghi lắm! - Cô ta nói rồi xốc súng lên - Các anh bị bắt!

- Hả? - Tiến hốt hoảng - Bắt là thế nào. Các cô dám...

- Im! Giơ tay lên!

Cô chỉ huy dõng dạc:

- Đồng chí Thiu! Trói ba người ni lại. Ai chống đối, tôi bắn bỏ.

Cô tên Thiu lấy dây dù trong túi đạn, trói cả ba lại. Chưa hết, cô ta còn xé bao bì gạo bịt mắt từng người. Cục tức tôi trào tận cổ. Tôi muốn hét vào mặt họ, chúng tôi giải phóng quê hương họ, vậy mà bây giờ… Nhưng lúc này đành chấp hành mệnh lệnh một cách tuyệt đối, đừng dại dột. Lơ mơ, họ lỡ cò, nhận cái chết lãng xẹt thì thật vô nghĩa. Họ giải 3 chúng tôi đi. Thực ra, cô tên Thiu trói tôi cũng lỏng mà bịt mắt cũng rất hở, đến nỗi tôi vẫn nhìn rõ mồn một cảnh vật chung quanh. Các cô tưởng khôn, giải chúng tôi đi quanh mấy bụi tre làm ra vẻ giữ bí mật rồi dẫn đến một cái lán, có hầm thùng khá rộng và các hầm trú kiên cố chung quanh. Các cô đỡ chúng tôi lần bước xuống từng bậc hầm vì tưởng không ai nhìn thấy gì. Thậm chí, cô Thiu còn ôm chân tôi đặt vào đúng bậc vì sợ tôi ngã. Kệ. Tôi cứ coi như mình không thấy gì, nhưng suýt phì cười. Họ mở băng bịt mắt cho chúng tôi, bắt ngồi thành hàng trên chiếc ghế dài được làm bằng một khúc gỗ. Cô chỉ huy lại chăm chú xem mấy tờ giấy ra viện rồi cười khúc khích, khác hẳn thái độ căng thẳng lúc trước:

- Tụi bây. Cái ông bác sĩ Vượng bệnh viện trưởng ký giấy ni thiệt giỏi. Ảnh cũng thương người lắm nghe.

- Có phải cái ông đẹp trai, trắng trắng không? - Cô tên Thiu hỏi rồi sán lại.

- Chứ sao. Cái hồi bệnh viện mới vô, đóng ở làng mình đó, tau thấy ông mổ cả đêm, cắt tay, nẹp chân, mổ bụng cứ xèo xèo như mổ gà, mà chết ít lắm nghe.

Một cô da đen đen, tóc xù liếc cô chỉ huy:

- Bởi vậy mà bồ thích ảnh ra mặt còn chi. - Con quỷ nè - Cô chỉ huy đấm vào lưng bạn - Nói tầm bậy không. Ảnh có vợ rồi chứ bộ.

- Chứ sao lúc mô cũng thấy bồ theo ảnh?

- Thì tau ngưỡng mộ “đôi tay vàng” thôi. Mà tau là du kích thì phải giúp bộ đội giải phóng chứ - Cô ta bỗng cười, dí ngón tay vô đầu cô trẻ xinh xinh - Có mà ảnh thích con ni nè.

- Đâu có. Đừng đổ oan cho em.

Tôi thấy lạ. Bốn cô du kích như quên nhóm “tù binh” chúng tôi. Đến khi Cần lấy túi thuốc rê ra hút rồi ho sằng sặc, họ mới như sực nhớ nhiệm vụ của mình. Cô chỉ huy trả giấy ra viện cho chúng tôi rồi cười, xởi lởi:

- Mấy anh thông cảm, vùng mới giải phóng nên đề phòng kẻ gian. Mà mấy anh về mô rứa?

- Chúng tôi về đơn vị. Xa lắm - Cần đáp.

- Xa thì mai hãy đi vì trời cũng gần tối rồi. Bữa ni ở lại nhậu với tụi em một bữa nghe.

Cả ba đứa ớ người khi nghe cô chỉ huy nói vậy, đưa mắt nhìn nhau. Chẳng cần chúng tôi đồng ý hay không, cô chỉ huy bảo ba cô bạn mang ba lô và bao tượng gạo cất vào hầm rồi nói với cô xinh nhất:

- Con ni về nói thằng Quả cụt mang rượu ra uống với mấy ảnh nghe. Tụi du kích với mấy anh giải phóng uống mừng Hiệp định Paris vừa ký.

Không khí trở nên náo nức. Các o chạy kiếm đâu về mấy con cá lóc nướng, lại có cả rượu, vừa nhậu, vừa chuyện trò. Toàn bộ bàn ghế trong hầm thùng dẹp hết, thay vào đó là chiếc chiếu làm bằng ni lông. Cô chỉ huy phân công mỗi cô ngồi cạnh một anh giải phóng. Các cô bắt chúng tôi tập bài hát miền Bắc. Khổ cho ba anh em, hát đã kém, lại làm mấy chén nên cứ lừ đừ, tập sai bét be. Họ hát cũng sai be bét. Bài nào cuối cùng cũng thành nhạc vàng hoặc ca vọng cổ. Sau ai hát nấy nghe. Chuyện trên trời dưới bể, chẳng liên quan gì đến nhau cũng kể.

Mờ sáng hôm sau, Cần lay tôi dậy. Tôi ngạc nhiên vì cả ba chúng tôi và Quả cụt vẫn đang ở ngoài hầm thùng này. Rõ ràng đêm qua họ đưa bọn mình vào hầm ngủ rồi mà. Tôi còn mang máng nhớ được ngủ trên chiếc võng dù ai đó trải sẵn. Đoán được thắc mắc của tôi, Quả cụt giải thích:

- Đêm qua mấy anh ngáy như pháo dàn, lại ọe hết ra hầm, mấy cô hết chịu nổi, phải thức tôi dậy, hè nhau khiêng lên.

Tôi thấy ngượng, hỏi:

- Thế họ đâu rồi?

- Mấy chị đi giặt rồi. Chắc sắp về.

Thằng Tiến đã tỉnh hẳn:

- Bọn mình lên đường thôi.

Tôi và Cần nhất trí. May quá, ba lô, bao gạo họ đặt sẵn góc hầm. Quả cụt nghe vậy, bảo:

- Mấy chị bảo chờ họ về làm cái chi ăn sáng cho mấy anh đi.

- Thôi. Cho bọn tôi gửi lời cảm ơn, hẹn dịp khác quay lại.

Quả cụt đành đưa chúng tôi ra đường lớn rồi hướng dẫn lối tắt đi ra trục đường 9.

*

Chúng tôi đi tắt qua Tân Lâm, tức cao điểm 241 hồi đầu chiến dịch cùng đơn vị góp phần giải phóng cụm cứ điểm vô cùng vững chắc này. Được nghênh ngang bước trên con đường to nối từ đường 9 vắt qua giữa cao điểm, tôi bồi hồi nhớ ngày nào đánh chiếm nó. Vẫn còn đó, 4 khẩu “vua chiến trường” 175 li, hai khẩu nguyên trên bệ, nòng vẫn hướng về phía Bắc như thủa nào. Hai khẩu nòng bị hất xuống đất trông to và dài như những cột đình. Tháp nước, chòi quan trắc trên núi Kiếm bên cạnh và bạt ngàn xác xe, súng ống, đạn dược vẫn ngồn ngộn, bừa bãi như trận đánh mới vừa hôm rồi.

Ba đứa bắt đầu thấy đói, định nấu cơm ăn, nhưng gió mạnh quá, không tài nào nhóm lửa được, đành chui xuống căn hầm dưới lưng chừng dốc để tránh gió. Căn hầm khá to, sặc mùi hăng hăng và ẩm mốc, rộng hơn chục mét vuông, có bê tông chung quanh, trần cao đứng thẳng người được. Lửa bùng lên. Căn hầm sáng dần.

Có cà-mèn cơm cạn, chúng tôi nhặt rau tàu bay hái chung quanh, luộc trong chiếc mũ sắt nhặt cạnh hầm, đặt lên ba cọc gỗ vừa đóng vội làm kiềng. Lúc này mấy đứa mới nhớ không còn muối. Vừa lúc đó, có tiếng ô tô và tiếng cười nói ồn ã trên đỉnh cao điểm. Cần chạy lên đấy xin muối. Nó vừa ra khỏi hầm bỗng hét tướng lên:

- Thanh ơi! Tiến ơi! Lên đây mà coi. Nhiều lắm.

- Nhiều gì? - Tôi ra khỏi hầm, hỏi.

Tôi và Cần chạy đến ô tô chở đạn có tốp chị em hỏa tuyến đang bốc xuống, xếp vào những căn hầm kiên cố giữa đồi. Họ không để ý hai chúng tôi, vừa bốc vừa chuyện, trêu chọc nhau ầm ĩ, toàn tiếng Quảng Bình nghe vui vui.

- Chị ơi - Tôi đón một cô gái vừa thả thùng đạn xuống, ngồi nghỉ trên nòng khẩu vua chiến trường 175 li - Cho bọn ni xin tý muối.

- Cái chi anh? Mói hỉ?

Cô ta bỗng nhìn mãi vào tôi rồi reo lên:

- Ủa bọ mạ ơi. Chú ni... à anh... thương binh… Thiệt nè... Rồi cô vẫy vẫy một người đang đứng trên xe - Loan ơi! Anh í đây nè.

- Anh mô? - Cô gái trên xe hỏi.

- Cái anh thương binh mà tụi miềng kêu là chú í, ở đây nè. Nhưng bây chừ khác lắm.

Cô gái tên Loan nhảy xuống, chạy đến trước mặt tôi, vừa lau vội mồ hôi trên trán, vừa ngắm nghía giây lát rồi reo lên:

- Đúng là anh nứ. Răng bây chừ nom đẹp rứa, trẻ rứa?

Tôi cũng mừng rỡ khi nhận ra hai o dân công hỏa tuyến khiêng mình từ mặt trận bên kia sông Mỹ Chánh đến viện 103 mấy tuần trước. Trông họ cũng tươi trẻ hơn hôm ấy.

Bỗng có tiếng còi toét toét: “Lên xe! Lên xe khẩn trương”. Hai cô gái đấm đấm vào vai tôi để “chia tay” rồi quay đầu chạy.

- Ê! Muối... muối đâu?

Bấy giờ Cần mới lên tiếng. Nhưng hai cô không nghe thấy, chỉ có những bàn tay vẫy vẫy và tiếng con gái cười rộn rã trên chiếc xe đang từ từ quay về hướng đường 9. Bấy giờ tôi mới nhớ chưa hỏi tên cô kia. Hai lần gặp nhau mà chưa biết tên. Tôi quay lại, thấy cả Tiến đến từ lúc nào, cũng đang giơ tay vẫy vẫy. Xe chạy khuất, Tiến nói với tôi:

- Số bọn ta đào hoa thật. Đi mô cũng gặp toàn người đẹp.

Cần bật cười:

- Rứa mới quên cả xin muối.

*

Ra đến đường 9, chúng tôi đứng chờ ở cầu Đầu Mầu để xin đi nhờ xe ô tô. Xe thì nhiều, nhưng cái nào cũng đầy đạn dược, nên không nhờ được đành vừa cuốc bộ hướng phía Tà Cơn, vừa mong bắt được xe. Lúc đầu đi bộ trên đường 9 rải nhựa, quang quẻ, thấy hào hứng lắm. Thì từ ngày vào chiến trường đã bao giờ được thoải mái thế đâu. Nhưng chỉ dăm bảy cây số đã nản vì đường bằng phẳng quá, trống trải quá, cứ đều đều bước, chứ không lên dốc, xuống đèo, chui lủi chạy bom, chạy pháo, tâm lý luôn sợ nên quên cả mệt. Ba đứa bắt đầu bị cơn đói hành hạ. Từ hôm qua đến giờ đã có miếng nào ra hồn vào bụng đâu. Đang mong tìm được nơi nấu nhờ ăn để lấy sức thì bỗng nghe tiếng nổ đinh tai ở cửa rừng, cách chúng tôi chừng dăm chục mét. Đám khói bụi tan đi, chúng tôi nghe tiếng khóc rống lên từ đó rất thảm thiết. Chắc là ai đó bị mìn rồi. Chúng tôi chạy lại, thấy một người lính hai tay đầy máu đang ôm con bò gục chết cạnh hố mìn khét mùi khói.

- Làm sao thế? Bị thương à?

Nghe tiếng Cần hỏi như hét, người lính mới hướng khuôn mặt loang lổ máu lên nhìn chúng tôi.

- Bị thương ở đâu? Để chúng tôi giúp.

Người lính lắc đầu, mếu máo:

- Không. Em không sao cả - Người lính đứng dậy, chỉ con bò - Nhưng con bò. Trời ơi, con bò chết rồi!

- Con bò chết thì làm sao?

Cậu ta chỉ nồi cơm đã cạn cạnh con suối nhỏ gần đấy:

- Em cho bò vào đây ăn cỏ, tiện thể nấu cơm ăn để đi tiếp. Ai dè nó dẫm phải mìn. Hu hu. - Cậu ta lại tấm tức - Vậy là em không hoàn thành nhiệm vụ rồi. Phải làm gì bây giờ?

- Ở đâu vào đây? Cậu dắt bò đi đâu? - Cần hỏi.

Cậu ta mếu máo: - Từ Bố Trạch Quảng Bình vào. - Hậu cứ Sư 304 à? Cậu ta gật. Tiến nhìn cậu ta lắc đầu:

- Hậu cứ 304 bị đánh tan tác hồi tháng 8 năm ngoái, Sư bộ chuyển đi hết rồi cơ mà. Đừng bịp bọn anh.

- Đúng là bị đánh và chuyển đi, chỉ còn trại bò chúng em vẫn phải ở lại nuôi. Vừa rồi 8 đứa trong trại dắt 8 con đi vào cho bộ đội ăn Tết. Chúng nó trót lọt cả, còn em thì...

- Thế cậu định dắt bò đi đâu?

- Dạ, cho Tiểu đoàn 19 đặc công trên Tà Cơn, thủ trưởng bảo thế.

Cả ba chúng tôi reo lên khi biết con bò này là của đơn vị mình. Nhưng nó đã chết, biết làm sao đây. Đang đói, chúng tôi lựa miếng thịt tươi luộc lên, cùng cậu ta ăn rất ngon lành. Người lính “dắt bò” sau khi rửa sạch máu me trông rất trẻ, dáng vẻ thư sinh hơn là lính trận. Lát sau có hai người dân hớt hải chạy đến. Họ nghe tiếng mìn, đang làm ở gần đến xem có ai bị sao. Họ giúp chúng tôi xẻ thịt, lấy những gì còn lấy được để tìm cách đưa về cho đơn vị. Họ về nhà lấy thêm bao bì, đựng thịt bò, cùng chúng tôi khiêng ra đường 9. Tất nhiên, thủ, chân bò chúng tôi để lại tặng đồng bào.

Ba chúng tôi đứng chờ một lúc thì thấy một chiếc xe bánh xích chở khối máy móc gì to nặng, phủ kín bạt, kéo rơ mooc tạt vào đường.

- Ê! Mấy bố có gì như thịt ấy? Đi đâu đây chở cho.

- Lên Tà Cơn.

- Mình cũng lên hướng ấy. Đi.

Anh ta còn hào hứng giúp chúng tôi khuân từng bì thịt lên rơ mooc rồi gạ, “một túi nhé!”

Có xe là may rồi, chúng tôi đồng ý ngay và hào hứng nhảy lên thùng rơ mooc. Mờ tối cũng đến ngã ba Cao Bốc, xe dừng lại. Tôi thấy từng cụm lửa lập lòe trên đồi và tiếng cười nói quen thuộc của đơn vị mình.

- Có phải D19 đấy không?

- 19 đây! Ai đó.

Đúng là đơn vị rồi. Mấy anh em mừng phát khóc. Trên đồi tiếng gọi nhau truyền đi “bọn đi viện về rồi mọi người ơi...” râm ran. Như những đứa con đi xa được trở lại nhà, chúng tôi cười nói, ôm chầm lấy nhau. Nhưng có mấy người bạn thân không thấy đón chúng tôi. Họ đã hy sinh trong thời gian chúng tôi nằm viện.

Ở chiến trường chẳng có cuộc vui nào trọn vẹn./. 


Truyện ngắn của THÁI CHÍ THANH
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Rời quân y viện