Mưa bão, vấn đề ô nhiễm nguồn nước thô và nguy cơ xâm nhập mặn đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công nghệ xử lý nước sinh hoạt, nhất là đối với các nhà máy nước mini trên địa bàn Hải Phòng.

Sau cơn bão số 4 vừa qua, người dân xã Hùng Thắng phản ánh nước sinh hoạt có hiện tượng vàng đục. Kết quả kiểm tra của Đoàn công tác liên ngành xã Hùng Thắng tại Nhà máy nước Tân Sơn và Nhà máy nước Hùng Thắng chiều 25/8 cho thấy, mưa lớn kéo dài làm nguồn nước đầu vào có thời điểm chứa nhiều phù sa, tạp chất, ảnh hưởng đến quá trình xử lý.
Trong khi đó, hệ thống bể lắng, bể lọc tại các nhà máy đã xuống cấp, khả năng thích ứng với sự biến động đột ngột của nguồn nước còn hạn chế.
Ngay sau đó, UBND xã Hùng Thắng yêu cầu 2 nhà máy khẩn trương khắc phục, rà soát quy trình sản xuất, tăng cường kiểm soát chất lượng nước và xây dựng phương án dự phòng khi mưa lớn kéo dài. UBND xã sẽ tăng cường giám sát, hậu kiểm hoạt động của các đơn vị và kiến nghị thành phố đẩy nhanh việc chuyển đổi vùng cấp nước.
Trước đó, một số hộ dân tại xã Vĩnh Thịnh cũng thường xuyên phản ánh nước máy có thời điểm vàng đục, lắng cặn, xuất hiện mùi lạ hoặc áp lực yếu. Một số người dân thôn Đông Lôi cho biết, có lúc nước máy chảy ra màu vàng, kèm cặn bẩn, khiến các gia đình lo lắng. Nhiều gia đình trong thôn đã chủ động lắp thiết bị lọc ngay tại đầu đường ống trước khi đưa nước vào bể chứa và các thiết bị sinh hoạt để bảo đảm chất lượng nước sinh hoạt.
Tuy nhiên, các kết quả kiểm nghiệm cho thấy chất lượng nước tại Nhà máy nước Thắng Thủy về cơ bản đạt quy chuẩn tại thời điểm lấy mẫu. Theo phiếu kết quả thử nghiệm do Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố Hải Phòng ban hành ngày 25/8, 3 mẫu nước được lấy ngày 12/8 tại Nhà máy nước Thắng Thủy và 2 hộ dân thuộc các thôn Đông Lôi, Chanh Chử đều cơ bản đáp ứng các chỉ tiêu nước sạch theo Quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất lượng nước sạch sử dụng cho mục đích sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hải Phòng (QCĐP 02: 2023/TPHP).

Kết quả này cho thấy không thể đánh giá chất lượng nước của các nhà máy mini không đạt quy chuẩn ở tất cả thời điểm. Vấn đề đáng quan tâm là chất lượng nước có lúc chưa ổn định, nhất là khi nguồn nước đầu vào thay đổi hoặc trong quá trình nước được truyền dẫn tới các hộ cuối mạng lưới.
Thực tế, các nhà máy nước mini ở khu vực nông thôn Hải Phòng phần lớn khai thác nguồn nước từ sông, kênh thủy lợi. Nguồn nước này dễ chịu tác động của mưa lớn, hạn hán, chất thải sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp và xâm nhập mặn.
Trong điều kiện bình thường, hệ thống hiện có có thể xử lý nước đạt các chỉ tiêu quy định. Nhưng khi mưa bão làm gia tăng phù sa, tạp chất hoặc hạn hán, xâm nhập mặn làm thay đổi chất lượng nguồn nước, các nhà máy quy mô nhỏ, công nghệ hạn chế khó duy trì chất lượng nước đầu ra ổn định.

Thực tế tại Hùng Thắng, Vĩnh Thịnh là những ví dụ cho thấy yêu cầu đặt ra không chỉ là nước đạt quy chuẩn tại thời điểm lấy mẫu. Chất lượng nước cần được bảo đảm thường xuyên, liên tục từ nguồn thô, quá trình xử lý, mạng lưới đường ống đến vòi nước của từng hộ dân.
Tại cuộc giám sát của Ban Đô thị HĐND thành phố tại một số địa phương vừa qua cũng ghi nhận nhiều nhà máy nước mini có quy mô nhỏ, công nghệ xử lý hạn chế, hệ thống đường ống xuống cấp. Nguồn nước thô tại một số khu vực tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm, trong khi việc kiểm tra, xử lý tồn tại có lúc chưa kịp thời.
Do đó, Ban Đô thị HĐND thành phố đề nghị các địa phương cần tăng tần suất kiểm tra, lấy mẫu định kỳ và đột xuất, tập trung vào thời điểm nguồn nước biến động mạnh như sau mưa bão, mùa khô hoặc khi có nguy cơ xâm nhập mặn. Mẫu nước cần được lấy tại nhà máy, trên mạng lưới và tại các hộ cuối nguồn để đánh giá đầy đủ chất lượng nước trong toàn bộ quá trình cung cấp.
Các đơn vị cấp nước phải chủ động theo dõi chất lượng nguồn nước thô, rà soát quy trình vận hành, duy tu hệ thống bể xử lý và đường ống; kịp thời thông báo cho người dân khi thau rửa đường ống hoặc nguồn nước đầu vào có biến động. Kết quả kiểm nghiệm cũng cần được công khai để người dân biết, giám sát, tránh tâm lý hoang mang.
Tuy nhiên, kiểm tra và khắc phục từng thời điểm mới là giải pháp trước mắt. Về lâu dài, Hải Phòng cần rà soát tổng thể năng lực của các nhà máy nước mini, từ công nghệ, công suất, nguồn nước, nhân lực vận hành đến khả năng bảo đảm cấp nước an toàn trong tình huống bất lợi.
Trên cơ sở đó, thành phố cần phân loại rõ nhà máy có khả năng tiếp tục hoạt động sau khi đầu tư nâng cấp, nhà máy cần chuyển đổi nguồn nước hoặc mua nước sạch từ đơn vị có năng lực. Đối với những nhà máy không còn đáp ứng yêu cầu, phải xây dựng phương án chuyển giao, thay thế.

Việc chuyển giao vùng cấp nước hiện còn vướng mắc về xác định giá trị tài sản, hợp đồng và thủ tục pháp lý. Tại một số địa phương, dù đã có đơn vị đủ khả năng mở rộng cấp nước, quá trình đầu tư chưa thể triển khai vì thỏa thuận cũ chưa chấm dứt, tài sản chưa được thẩm định và phương án bàn giao chưa thống nhất.
Điển hình, Công ty CP Cấp nước Hải Phòng hiện quản lý 9 nhà máy nước và một số trạm cấp nước, phục vụ khoảng 1,5-1,6 triệu người tại 34 đơn vị hành chính cấp xã. Tổng công suất thiết kế hơn 415.000 m³/ngày đêm, còn dư khoảng 145.000 m³/ngày đêm, đủ khả năng mở rộng vùng phục vụ. Tuy nhiên, khi các thỏa thuận cấp nước cũ chưa chấm dứt, tài sản chưa được xác định và phương án bàn giao chưa thống nhất, đơn vị mới chưa thể đầu tư mạng lưới.
Do đó, các sở, ngành liên quan cần sớm xây dựng quy trình thống nhất về kiểm kê, thẩm định, xử lý tài sản và chuyển giao vùng cấp nước. Mỗi nhà máy cần có phương án, lộ trình và thời hạn xử lý cụ thể, tránh để các địa phương và doanh nghiệp tự thỏa thuận kéo dài.
Tại cuộc làm việc với các doanh nghiệp cấp nước của thành phố vừa qua, đồng chí Nguyễn Khắc Toản, Phó Chủ tịch HĐND thành phố đề nghị Sở Nông nghiệp và Môi trường, Sở Xây dựng cần sớm phối hợp tham mưu thành phố tháo gỡ vướng mắc về cơ chế, tài sản và thủ tục chuyển giao các nhà máy không đáp ứng yêu cầu cho đơn vị đủ năng lực.
Trong thời gian chưa hoàn tất chuyển giao, có thể nghiên cứu phương án để đơn vị có đủ năng lực bán buôn nước sạch cho nhà máy mini tiếp tục phân phối qua mạng lưới hiện có. Giải pháp này vừa tận dụng hạ tầng đã đầu tư, vừa nâng cao chất lượng nguồn nước cung cấp tới người dân.
Biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, ô nhiễm nguồn nước và xâm nhập mặn sẽ tiếp tục tạo sức ép đối với hoạt động cấp nước nông thôn. Vì vậy, mục tiêu lâu dài không chỉ là xử lý những thời điểm nước chưa đạt yêu cầu mà cần hình thành hệ thống cấp nước có quy mô, công nghệ và năng lực dự phòng đủ mạnh, bảo đảm mọi người dân được sử dụng nước sạch an toàn, ổn định trong mọi điều kiện.
BẢO NAM