Cải cách hành chính

Sửa đổi Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia tới năm 2030

Theo TTXVN • 03/10/2026 22:41

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng vừa ký ban hành Quyết định số 1919 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 412 phê duyệt Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia tới năm 2030.

Đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án góp phần khơi thông nguồn lực, tạo thêm động lực tăng trưởng cho thành phố. Ảnh: LÊ DŨNG
Đẩy nhanh tiến độ các công trình, dự án góp phần khơi thông nguồn lực, tạo thêm động lực tăng trưởng cho thành phố. Ảnh: LÊ DŨNG

Quyết định số 1919/QĐ-TTg ngày 2/10/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 412/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 theo hướng thay đổi một số mục tiêu của Đề án, gắn với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Cụ thể, Quyết định số 1919/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 1 về mục tiêu và khoản 2 Điều 1 về giải pháp chủ yếu của Đề án.

Theo đó, Quyết định sửa đổi mục tiêu tổng quát là phấn đấu đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; có thể chế quản lý hoàn thiện, cạnh tranh, hiệu lực, hiệu quả; nền kinh tế phát triển mạnh mẽ trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, nâng cao hiệu quả trong hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, thực hiện giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn, carbon thấp; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo thuận lợi để nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư, góp phần giảm chi phí huy động vốn, giảm mức rủi ro tín dụng quốc gia.

Mục tiêu cụ thể: Đến năm 2030 đạt mức xếp hạng tín nhiệm từ Baa3 (đối với Moody's) hoặc BBB- (đối với S&P và Fitch) trở lên.

Các chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế vĩ mô giai đoạn 2026 - 2030: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân khoảng 40% GDP, trong đó đầu tư công chiếm 20 - 22%.

Các chỉ tiêu về tài khóa: Kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước được Quốc hội phê duyệt trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm và kế hoạch tài chính quốc gia 5 năm, bội chi ngân sách nhà nước bình quân giai đoạn 2026 - 2030 khoảng 5% GDP, nợ công không quá 60% GDP, nợ Chính phủ không quá 50% GDP.

Các chỉ tiêu lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng: Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu các ngân hàng thương mại giai đoạn 2026 - 2030 tiệm cận chuẩn mực Basel III, muộn nhất đến năm 2030 đạt tỷ lệ an toàn vốn ở mức 8,625%; củng cố dự trữ ngoại hối nhà nước khi điều kiện thuận lợi.

Các chỉ tiêu về xã hội: Chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,8.

Các chỉ tiêu về môi trường: Tỷ lệ che phủ rừng duy trì mức 42%; tỷ lệ nước thải sinh hoạt tại các đô thị loại I trở lên được thu gom, xử lý đến năm 2030 đạt khoảng 70%; lượng phát thải khí nhà kính giảm 8 - 9%.

Sửa đổi, bổ sung điểm c, d, đ khoản 2 Điều 1 về các giải pháp chủ yếu của Đề án

Quyết định số 1919/QĐ-TT sửa đổi, bổ sung điểm c, d, đ khoản 2 Điều 1 về các giải pháp chủ yếu của Đề án như sau:

Xây dựng nền tài chính công vững mạnh, mở rộng cơ sở thu bền vững để cải thiện các chỉ số nợ và thúc đẩy củng cố tài khóa.

Việc điều hành chính sách tài khóa cần tiếp tục được thực hiện theo hướng chủ động, linh hoạt nhưng thận trọng, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế với mục tiêu duy trì ổn định tài khóa trong trung và dài hạn. Đảm bảo các chỉ tiêu bội chi ngân sách nhà nước; nợ công, nợ Chính phủ so với GDP theo các mục tiêu đã được Quốc hội phê duyệt.

Chính sách tài khóa mở rộng áp dụng có trọng tâm, trọng điểm, tập trung cho các dự án trọng điểm, quan trọng quốc gia, tạo lan tỏa lớn, bảo đảm phát triển hài hòa giữa các vùng, miền, tạo động lực tăng trưởng kinh tế dài hạn.

Tiếp tục nâng cao hiệu quả quản lý nợ công theo hướng kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng nợ công và tăng cường quản lý rủi ro danh mục nợ. Đồng thời, tăng cường quản lý các nghĩa vụ nợ tiềm ẩn phát sinh từ bảo lãnh Chính phủ, các dự án đối tác công tư (PPP), doanh nghiệp nhà nước nhằm hạn chế rủi ro chuyển hóa thành nghĩa vụ của ngân sách nhà nước trong tương lai.

Cải thiện cơ cấu và chất lượng của khu vực ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước để giảm rủi ro nghĩa vụ nợ dự phòng đối với ngân sách nhà nước.

Tiếp tục củng cố an toàn hệ thống và hiện đại hóa quản trị hoạt động ngân hàng theo hướng tiệm cận các chuẩn mực quốc tế (bao gồm Basel III) phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam.

Nâng cao tính minh bạch, khả năng tiếp cận, tính kịp thời và chất lượng của các dữ liệu ngân hàng như dự trữ ngoại hối, cán cân thanh toán và các chỉ tiêu liên quan, phù hợp với lộ trình hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và các thông lệ quốc tế.

Nghiên cứu, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và thực hiện nhiệm vụ "lập, theo dõi và phân tích trạng thái đầu tư quốc tế (IIP) của Việt Nam, làm cơ sở cung cấp thông tin cho các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc gia khi được yêu cầu.

Điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững, đảm bảo an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng; hướng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.

Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tiền tệ, hoạt động ngân hàng theo hướng minh bạch, hiệu quả, tiệm cận thông lệ quốc tế và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.

Phối hợp chặt chẽ giữa thanh tra, giám sát và cấp phép để đảm bảo an toàn hệ thống.

Triển khai các nhiệm vụ, giải pháp về phát triển doanh nghiệp nhà nước tại Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước theo 4 nhóm giải pháp lớn: Tiếp tục củng cố, phát triển, bảo đảm doanh nghiệp nhà nước thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; thúc đẩy đầu tư, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh để kinh doanh hiệu quả, bền vững; tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản trị doanh nghiệp; tiếp tục cơ cấu lại vốn nhà nước tại doanh nghiệp và đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước.

Tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước và các quy định pháp luật liên quan đến doanh nghiệp nhà nước để đáp ứng tình hình mới và tháo gỡ vướng mắc phát sinh trong thực tế.

Tăng cường hiệu quả, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của công tác xếp hạng tín nhiệm quốc gia, tăng cường công tác phối hợp giữa các bộ, ngành, hợp tác với các tổ chức xếp hạng tín nhiệm và các tổ chức quốc tế.

Lãnh đạo các bộ, ngành liên quan (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường...) chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo công tác xếp hạng tín nhiệm quốc gia thuộc lĩnh vực quản lý, bố trí trực tiếp chủ trì các buổi làm việc đánh giá xếp hạng tín nhiệm nhằm tăng cường tính thuyết phục, trực tiếp làm rõ và chia sẻ thông tin điều hành cốt lõi.

Nâng cao chất lượng, tần suất thông tin, số liệu công bố trên trang thông tin điện tử của các bộ, ngành và tổ chức liên quan, làm nguồn khai thác thông tin chính thức phục vụ công tác xếp hạng tín nhiệm.

Nâng cao tính chủ động, tích cực của các bộ, ngành, tổ chức được giao tham gia công tác đánh giá xếp hạng tín nhiệm quốc gia trong việc tiếp xúc, trao đổi với các tổ chức xếp hạng tín nhiệm, tích cực tham gia các Hội nghị ngành, tọa đàm, diễn đàn nhằm cởi mở, chủ động trong việc chia sẻ thông tin với các tổ chức quốc tế, tổ chức xếp hạng tín nhiệm trong khuôn khổ đánh giá xếp hạng tín nhiệm quốc gia và các đoàn đánh giá chuyên đề...

Theo TTXVN
(0) Bình luận
Sửa đổi Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia tới năm 2030