Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 21/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều liên quan đến việc thi hành Luật Địa chất và khoáng sản, trọng tâm là các biện pháp quản lý và cấp phép khai thác.

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 21/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 193/2025/NĐ-CP ngày 2/7/2025. Văn bản này quy định chi tiết biện pháp thi hành Luật Địa chất và khoáng sản, đồng thời bổ sung các quy định mới về cấp giấy phép khai thác khoáng sản nhóm III làm vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các dự án trọng điểm.
Nghị định số 21/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung Điều 61 Nghị định số 193/2025/NĐ-CP với các điều kiện cụ thể cho từng nhóm đối tượng:
Đối với các trường hợp thông thường (Khoản 1): Tổ chức, cá nhân được cấp phép khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn tại Điều 53 và Điều 55 của Luật Địa chất và khoáng sản, bao gồm:
- Có quyền sử dụng thông tin và kết quả thăm dò khoáng sản hợp pháp.
- Có hồ sơ năng lực tài chính bảo đảm thực hiện dự án đầu tư.
- Được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận hoặc quyết định chủ trương đầu tư (trừ một số trường hợp đặc biệt).
- Đã có kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc được cấp giấy phép môi trường theo quy định.
- Đối với khai thác khoáng sản phóng xạ: Phải có văn bản thẩm định báo cáo đánh giá an toàn về năng lượng nguyên tử.
Đối với khoáng sản nhóm III làm vật liệu xây dựng thông thường (Khoản 2): Áp dụng cho các công trình, dự án quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1a Điều 55 Luật Địa chất và khoáng sản. Điều kiện bao gồm:
- Đáp ứng điều kiện tại khoản 1a Điều 53 và khoản 1b Điều 55 của Luật.
- Hồ sơ dự án đầu tư khai thác phải có nội dung chi tiết về kỹ thuật an toàn, bảo vệ môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường.
Hồ sơ được lập thành 01 bộ, thành phần quy định như sau:
- Trường hợp thông thường: Văn bản đề nghị (bản chính); Bản đồ khu vực khai thác, mặt cắt, bản vẽ thiết kế (bản chính); Báo cáo nghiên cứu khả thi (bản sao hợp lệ); Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc giấy phép môi trường (bản sao hợp lệ).
- Trường hợp khoáng sản nhóm III: Văn bản đề nghị (bản chính); Bản đồ khu vực khai thác và các bản vẽ liên quan (bản chính); Phương án kỹ thuật an toàn và bảo vệ môi trường (bản chính).
Nghị định nêu rõ phương án xử lý đối với khu vực khai thác khoáng sản nhóm II và nhóm III nằm trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên:
- Tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ tại địa phương có tỷ lệ diện tích khu vực khai thác lớn nhất.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm lấy ý kiến bằng văn bản của UBND các tỉnh liên quan trước khi quyết định cấp phép.
Cơ quan có thẩm quyền cấp phép cũng là đơn vị thực hiện việc gia hạn, cấp lại, điều chỉnh, cấp đổi, thu hồi giấy phép, chuyển nhượng quyền khai thác hoặc đóng cửa mỏ đối với các giấy phép đã cấp trước đó.
Nghị định số 21/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi khoản 1 Điều 63 Nghị định số 193/2025/NĐ-CP về điều kiện cấp lại giấy phép:
- Về trữ lượng: Khu vực khai thác phải còn trữ lượng khi giấy phép hết hiệu lực hoặc khi tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ đề nghị sau ngày hết hiệu lực.
- Về nghĩa vụ pháp lý: Phải hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ quy định và không vi phạm pháp luật khoáng sản đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
- Về môi trường: Phải có kết quả thẩm định báo cáo tác động môi trường hoặc giấy phép môi trường mới (nếu có yêu cầu).
- Về xác nhận địa phương: Đối với giấy phép thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, phải được UBND cấp tỉnh xác nhận việc thực hiện các nghĩa vụ liên quan.
- Về kỹ thuật xây dựng: Được cơ quan thẩm định thiết kế cơ sở hoặc thiết kế bản vẽ thi công chấp thuận bằng văn bản đối với các nội dung điều chỉnh so với hồ sơ ban đầu.
Nghị định số 21/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 16/1/2026.