Chính phủ ban hành Nghị định số 321/2026/NĐ-CP quy định mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và các chế độ ưu đãi người có công với cách mạng.

Đối tượng áp dụng theo quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng số 02/2020/UBTVQH14.
Nghị định quy định tăng mức chuẩn trợ cấp ưu đãi người có công với cách mạng từ 2.789.000 đồng lên 3.012.000 đồng.
Mức chuẩn trên làm căn cứ để tính mức hưởng trợ cấp, phụ cấp và chế độ ưu đãi đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng. Các mức quy định theo mức chuẩn tại Nghị định này được điều chỉnh khi mức chuẩn được điều chỉnh và làm tròn đến hàng nghìn đồng.
Nghị định quy định cụ thể mức hưởng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với từng đối tượng, gồm mức hưởng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi hằng tháng đối với người có công với cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng; mức hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; mức hưởng trợ cấp ưu đãi hằng tháng đối với thương binh loại B; mức hưởng trợ cấp ưu đãi một lần đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng.
Nghị định nêu rõ, trường hợp mức trợ cấp một lần tính theo thâm niên thì sau khi đã tính tròn số năm tham gia kháng chiến, tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc hoặc làm nghĩa vụ quốc tế mà còn có tháng lẻ, số tháng lẻ được tính tròn theo nguyên tắc: từ đủ 6 tháng đến dưới 12 tháng được tính là 1 năm, dưới 6 tháng được tính là 6 tháng.
Trường hợp không xác định được ngày, tháng bắt đầu hoạt động kháng chiến thì được tính từ ngày 1/7 của năm đó.
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định các chế độ ưu đãi khác liên quan đến người có công với cách mạng.
Theo đó, thực hiện đóng bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế cho người có công với cách mạng, thân nhân và người phục vụ người có công với cách mạng theo quy định của Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14.
Đối với điều dưỡng phục hồi sức khỏe tại nhà, mức chi bằng 0,9 lần mức chuẩn/người/lần và được chi trả trực tiếp cho đối tượng được hưởng.
Đối với điều dưỡng phục hồi sức khỏe tập trung, mức chi bằng 1,8 lần mức chuẩn/người/lần. Nội dung chi bao gồm tiền ăn trong thời gian điều dưỡng; thuốc thiết yếu; quà tặng cho đối tượng; tham quan, gồm tiền đi lại và vé tham quan; các khoản chi khác phục vụ trực tiếp cho đối tượng trong thời gian điều dưỡng.
Các khoản chi khác phục vụ trực tiếp cho đối tượng trong thời gian điều dưỡng có mức tối đa bằng 10% mức chi điều dưỡng phục hồi sức khỏe tập trung, gồm khăn mặt, xà phòng, bàn chải, thuốc đánh răng, chụp ảnh, tư vấn sức khỏe, phục hồi chức năng, sách báo, hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao và các khoản chi khác phục vụ đối tượng điều dưỡng.
Mức hỗ trợ mua phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng cần thiết được quy định tại Phụ lục V ban hành kèm theo Nghị định.
Nghị định cũng quy định hỗ trợ tiền đi lại và tiền ăn cho đối tượng khi đi làm phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, mỗi niên hạn 1 lần, hoặc đi điều trị phục hồi chức năng theo chỉ định của bệnh viện chuyên khoa phục hồi chức năng hoặc bệnh viện cấp cơ bản trở lên có chuyên khoa phục hồi chức năng.
Mức hỗ trợ là 10.000 đồng/km/người, tính theo khoảng cách từ nơi cư trú đến cơ sở y tế gần nhất đủ điều kiện về chuyên môn kỹ thuật cung cấp dụng cụ chỉnh hình, nhưng tối đa 2.800.000 đồng/người/niên hạn.
Nghị định đồng thời quy định chế độ hỗ trợ ưu đãi giáo dục tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
Mức hưởng trợ cấp để theo học tại nhà trẻ, nhóm trẻ độc lập, trường mẫu giáo, lớp mẫu giáo độc lập, trường mầm non, lớp mầm non độc lập là 0,4 lần mức chuẩn/đối tượng/năm.
Mức hưởng trợ cấp để theo học tại cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học, trường chuyên biệt, lớp dành cho người khuyết tật và cơ sở giáo dục khác trong hệ thống giáo dục quốc dân, trừ cơ sở giáo dục mầm non, là 0,8 lần mức chuẩn/đối tượng/năm.
PV