
Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Ảnh tư liệu)
Đúng một tháng sau khi Hồ Chủ tịch thăm nước Pháp về đến Hải Phòng, ngày 20-11-1946, quân Pháp nổ súng đánh chiếm thành phố. Trưa ngày 23-11, qua làn sóng điện của Đài Tiếng nói Việt Nam, Bác kêu gọi:“Tình hình Lạng Sơn chưa yên tình hình Hải Phòng trở lại nghiêm trọng. Chẳng những quân đội Pháp không chịu thi hành những điều đại biểu tướng Moóclie và đại biểu Chính phủ ta đã ký chiều ngày 20-11 mà sáng nay họ còn yêu sách thêm những điều mà ta không thể nhận. Vì vậy lại bắt đầu xung đột… Tôi kêu gọi toàn thể đồng bào phải trấn tĩnh, các bộ đội và tự vệ phải sẵn sàng bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng, tài sản của ngoại kiều. Chính phủ luôn luôn đứng sát với toàn thể đồng bào đề giữ gìn đất nước”.
Quân và dân Hải Phòng kiên cường chiến đấu để bảo vệ đất Cảng. Sau 7 ngày đêm chiến đấu, lực lượng vũ trang, chính quyền và đông đảo nhân dân rút khỏi thành phố sang vùng nông thôn Kiến An để tiếp tục kháng chiến. Ngày 26-11, Liên tỉnh Hải – Kiến được thành lập. Ủy ban kháng chiến Liên tỉnh ra lời kêu gọi quân dân Hải – Kiến quyết tâm kháng chiến đến toàn thắng.
Một tháng sau khi quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng, ngày 19-12-1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi:“Hỡi đồng bào toàn quốc! Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!...”
Lời kêu gọi thiêng liêng của Hồ Chủ tịch là mệnh lệnh chiến đấu của Tổ quốc. Quân và dân Liên tỉnh Hải - Kiến cùng với cả nước nhất tề đứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Từ đầu năm 1947, quân Pháp liên tục mở các cuộc hành quân đánh chiếm vùng nông thôn. Địa bàn Hải Phòng - Kiến An đã hình thành hai vùng rõ rệt: Vùng tự do và vùng bị địch chiếm, ngăn cách bởi sông Văn Úc. Trong vùng địch chiếm đóng, chiến tranh du kích phát triển.
Phong trào toàn dân hăng hái giết giặc đã lôi cuốn được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia. Các cháu thiếu nhi, các cụ phụ lão đều tham gia đánh giặc. Ngày 21/10/1947, Bác gửi thư khen hai cụ già du kích Kiến An:“Hai cụ thật xứng đáng với tổ tiên oanh liệt của ta, các phụ lão đời Trần đời Lê, chẳng những kêu gọi con cháu mà tự mình hăng hái tay chống gậy, tay cầm dao giết giặc, cứu nước”.
Tháng 3 năm 1948, Liên Tỉnh uỷ quyết định thành lập Ban cán sự Đảng ở nội thành để thống nhất chỉ đạo mọi hoạt động trong thành phố Hải Phòng. Cán bộ, đảng viên không quản hy sinh, bám đất, bám dân quyết tâm phục hồi và phát triển cơ sở. Vì vậy, sau một thời gian ngắn, ta đã phát triển được trên 500 cơ sở ở nội thành, nội thị, thành lập được 4 chi bộ với 30 đảng viên làm hạt nhân lãnh đạo phong trào quần chúng. Cơ sở kháng chiến được củng cố và xây dựng ở nhiều xí nghiệp, nhà máy. Phong trào đấu tranh của đội ngũ công nhân phát triển (tháng 1-1949, Liên tỉnh Hải - Kiến lại tách thành Hải Phòng, Kiến An).
Sau khi tăng viện cho chiến trường Bắc Bộ hơn 3 vạn quân, thực dân Pháp mở những cuộc hành quân đánh chiếm và bình định nhiều địa bàn ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Ngày 7-1-1950, chúng huy động lực lượng lớn tiến công đánh chiếm huyện Tiên Lãng và ngày 5-2-1950, tiếp tục đánh chiếm huyện Vĩnh Bảo. Các cơ quan Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang Hải Phòng - Kiến An rút sang tỉnh Thái Bình. Ngày 8-2 -1950, địch mở cuộc hành quân đánh chiếm tỉnh Thái Bình. Các cơ quan thành phố, tỉnh vượt vòng vây lên Đèo Voi, Bãi Bằng trong dãy Yên Tử, để xây dựng căn cứ. Các đơn vị vũ trang bí mật luồn trở lại vùng địch chiếm đóng để tham gia khôi phục cơ sở kháng chiến. Mặc dù bị mất địa bàn đứng chân, nhưng cán bộ, đảng viên Hải Phòng, Kiến An vẫn quyết tâm và kiên trì xây dựng cơ sở trong vùng địch chiếm đóng, để tiếp tục cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp xâm lược.
Thực hiện chủ trương “chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công” tại Hội nghị toàn quốc lần thứ 3 của Đảng, tháng 5-1950, Thành uỷ Hải Phòng và Tỉnh uỷ Kiến An triệu tập hội nghị cán bộ lần thứ 2 để quán triệt nghị quyết và đề ra nhiệm vụ cụ thể của từng địa phương. Hội nghị cán bộ tỉnh Kiến An xác định:“Địch chiếm đóng đồng bằng hòng phá cuộc tổng phản công của ta, bảo vệ đường số 5 và đường rút lui ra bể. Cho nên, tỉnh ta phải tranh đấu với địch quyết liệt hơn… Phải đẩy mạnh cuộc chiến tranh du kích lên một trình độ cao để tiêu diệt một phần sinh lực địch; chuẩn bị chiến trường đặc biệt là đường 5 và Hải Phòng”. Hội nghị đề ra ba khâu công tác chính:“Phát triển du kích chiến đến cao độ; Tăng cường công tác địch vận; Đào tạo cán bộ, học tập lý luận”.