Phối hợp với chiến dịch Điện Biện Phủ, lực lượng vũ trang Hải Phòng - Kiến An đẩy mạnh đánh địch trên khắp các địa bàn. Bộ đội Kiến An tổ chức các trận tập kích sân bay Đồ Sơn (4-1-1954), sân bay Cát Bi (7-3-1954), phá huỷ nhiều phuơng tiện chiến tranh của địch.

Sân bay Cát Bi cháy dữ dội sau trận tập kích
Sân bay Cát Bi là đầu cầu hàng không tiếp tế cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Phần lớn vật tư, phương tiện chiến tranh của Pháp - Mỹ tập kết tại đây. Hằng ngày có hơn 100 lượt máy bay vận tải DC 3, 30 máy bay C119 cất cánh từ sân bay này để chở 200 - 300 tấn hàng hoá, vũ khí lên tiếp tế cho Điện Biên Phủ. Đêm 6-3-1954, 32 cán bộ chiến sĩ, được sự giúp đỡ của nhân dân, vượt sông Lạch Tray đột nhập sân bay Cát Bi. Một giờ sáng ngày 7-3-1954, trận đánh diễn ra, nhiều máy bay bị phá huỷ, 6 lính Âu - Phi bị diệt. Bom đạn trong sân bay nổ tung và cháy suốt 17 giờ liền.
Chiến thắng Cát Bi vang dội toàn quốc. Thực dân Pháp bị tổn thất nặng nề và gặp rất nhiều khó khăn trong việc vận chuyển tiếp tế cho các chiến trường. Đây là chiến thắng lớn nhất về phá huỷ máy bay địch trong cuộc kháng chiến chống Pháp, một cuộc tiến công phối hợp kịp thời, có hiệu quả cao với chiến trường Điện Biên Phủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện khen và tặng đơn vị tập kích sân bay danh hiệu “Đoàn dũng sĩ Cát Bi”. Chính phủ đã tặng thưởng cho đơn vị 1 Huân chương Quân công hạng Nhất, 1 Huân chương Quân công hạng Hai, 2 Huân chương Quân công hạng Ba và 28 Huân chương Chiến sĩ hạng Nhất cho cán bộ, chiến sĩ tham gia trận đánh.
Ngày 7-5-1954, tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ bị thất thủ. Để tránh nguy cơ bị tiêu diệt và sụp đổ hoàn toàn, thực dân Pháp ở Đông Dương phải thu hẹp vùng chiếm đóng. Riêng đồng bằng Bắc Bộ, chúng rút 175 vị trí về cố thủ Hà Nội - Hải Phòng - đường số 5. Ngày 20-7-1954, Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết. Theo Hiệp định, Hải Phòng - Kiến An nằm trong khu tập kết 300 ngày của quân đội Pháp. Ba trăm ngày tập kết chuyển quân của thực dân Pháp cũng là những ngày đấu tranh gay go, quyết liệt, sôi động của quân và dân Hải Phòng - Kiến An trên các mặt chính trị, kinh tế, buộc đối phương thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ.

Tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp hội nghị nhận định tình hình nhiệm vụ mới và việc tiếp quản khu tập kết 300 ngày, trọng tâm là thành phố Hải Phòng. Vì giải phóng Hải Phòng là giải phóng hoàn toàn miền Bắc:“Việc chúng ta tiếp quản được những thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng… khiến chúng ta không những có nông thôn, mà còn có thành thị, đường sắt, cửa biển, vùng công nghiệp… Đó là một biến đổi lớn, ta có đủ điều kiện kiến thiết với quy mô một quốc gia”. Thực hiện các chủ trương của Đảng, hội nghị Thành uỷ Hải Phòng mở rộng (từ ngày 18 đến ngày 20-9-1954) xác định nhiệm vụ của nhân dân thành phố Hải Phòng lúc này là: Chuẩn bị tốt cho việc tiếp quản, chống địch cưỡng ép dân di cư, chống di chuyển phá hoại tài sản, chống bắt lính và vận động binh sỹ nguỵ trở về gia đình, quê hương…
Cuộc đấu tranh chống địch cưỡng ép, dụ dỗ dân di cư vào Nam diễn ra vô cùng quyết liệt. Hàng vạn người, nhất là bà con giáo dân, khắp các tỉnh ùn ùn kéo về Hải Phòng đợi ngày xuống tàu vào Nam. Cán bộ, bộ đội, công nhân ngày đêm bám các trại di cư, bến cảng kiên trì vận động nhân dân trở về quê huơng. Nhiều người đã ở lại nhưng hàng vạn người vẫn bị địch cưỡng ép di cư vào Nam. Phong trào địch vận diễn ra rầm rộ, sôi nổi và đạt nhiều thắng lợi lớn. Một tháng sau ngày hội nghị Giơnevơ kết thúc, Hải Phòng đã có 3.481 binh sỹ ngụy bỏ ngũ. Nhiều phòng động viên, điểm chiêu mộ thanh niên vào lính bị nhân dân bao vây, giải thoát cho số thanh niên đã bị ép đi lính.
Buộc phải rút khỏi Hải Phòng, Pháp và Mỹ cố ý phá hoại thành phố Cảng, trung tâm công nghiệp lớn. Chúng muốn di chuyển hoặc phá huỷ hết tài sản, máy móc, thiết bị, tài liệu quan trọng với mưu đồ để lại một thành phố chết. Cuộc đấu tranh bảo vệ máy móc, tài sản, chống giãn thợ kết hợp với đấu tranh chống địch cưỡng ép di cư lan rộng và diễn ra quyết liệt. Nhân dân Hải Phòng nêu cao khẩu hiệu “Máy móc là xương, là thịt của công nhân”. Từ tháng 9-1954, phong trào đấu tranh đã được đông đảo quần chúng, công nhân, lao động toàn thành phố hưởng ứng. Tiêu biểu là các cuộc đấu tranh ở cảng, nhà máy ximăng, nhà thương chính, nhà thương chữa răng, sở lục lộ, ga và toa xe, xí nghiệp đá Tràng Kênh, máy Chai, Điện Cửa Cấm, Bưu điện, Đài Thiên văn Phủ Liễn …

Tiếp quản thành phố là nhiệm vụ của toàn Đảng bộ, quân và dân Hải Phòng. Các lớp huấn luyện, bồi dưỡng cán bộ tiếp quản, nghiệp vụ quản lý hành chính được mở liên tục. Ngày 5-5-1955, hai Đội hành chính - trật tự xuất phát từ Quỳnh Khê tiến vào nội thành và tỉnh lỵ Kiến An. Ngày 10-5 tiếp quản tỉnh lỵ Kiến An, ngày 13-5 tiếp quản thành phố Hải Phòng; ngày 14, 15-5, tiếp quản huyện Kiến Thuỵ và thị trấn Đồ Sơn; ngày 16-5, tiếp quản huyện đảo Cát Hải - Cát Bà, vị trí cuối cùng của thực dân Pháp ở miền Bắc Việt Nam.
Ngày 13-5-1955, từ sáng sớm, đường phố đã chật kín người. Nhân dân nội thành và các huyện đón mừng đội quân giải phóng tiến vào thành phố. Bộ đội tiến tới đâu, rừng cờ hoa nở ra tới đó. Hải Phòng rực rỡ cờ hoa, biểu ngữ và những bộ quần áo đẹp, đón chào những người con thân yêu trở về giải phóng quê hương. Người dân đất Cảng chứng kiến những tên lính xâm lược cuối cùng xuống tầu rút khỏi thành phố. Hải Phòng được giải phóng, miền Bắc hoàn toàn giải phóng. Thành phố càng sôi động khi đoàn xe lửa rước cờ đỏ sao vàng và ảnh Bác Hồ tiến vào Cảng. Nhà máy và tầu biển đậu ở cảng đồng loạt cất hồi còi dài chào mừng ngày lịch sử quang vinh của đất Cảng, của dân tộc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm chú theo dõi ngày giải phóng Hải Phòng. Người gửi thư cho dồng bào Hải Phòng:“Do quân và dân ta đoàn kết nhất trí, kháng chiến anh dũng, mà chiến tranh đã chấm dứt, hòa bình đã thắng lợi. Nước Pháp đã phải công nhận nước ta độc lập và thống nhất. Những vùng quân đội Pháp chiếm đóng trước đây đã lần lượt được giải phóng. Sau 8 năm chiến đấu, đồng bào Hải Phòng lại được sống tự do”. Ngày 18-5-1955, báo Nhân Dân, số 441, đăng bài Sau 83 năm, do Bác viết, với những dòng xúc động và tự hào:“Trải qua tủi nhục hơn 80 năm, nay Hải Phòng đã vươn mình dậy, giải phóng. Khắp phố phường cờ đỏ sao vàng tung bay rực rỡ như hoa nở mùa xuân. Hàng vạn đồng bào, già trẻ gái trai, đủ các tầng lớp tỏa ra hoan nghênh bộ đội và cán bộ. Nét mặt mọi người sung sướng vui mừng, như mùa xuân hoa nở. Những năm chịu đựng gian khổ, đoàn kết chiến đấu, đã kết quả vẻ vang: miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng. Hải Phòng đã giải phóng hoàn toàn!”.
(Theo “Hải Phòng làm theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh”)