Đại biểu Đỗ Văn Bình (Hải Phòng) đề nghị nên nghiên cứu, tiếp tục sửa đổi, bổ sung quy định để làm rõ và cụ thể hơn chức năng nhiệm vụ của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài để khai thác có hiệu quả hơn nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài. Theo đại biểu, quy định một trong những tiêu chuẩn bổ nhiệm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền là đã có thời gian giữ chức vụ phó vụ trưởng hoặc tương đương trở lên là chưa rõ. Đồng thời đề nghị, quy định về con chưa thành niên đi theo thành viên cơ quan đại diện được hỗ trợ một phần học phí tại quốc gia tiếp nhận và chi phí mua bảo hiểm khám, chữa bệnh cần được tiếp tục nghiên cứu, xây dựng cụ thể hơn. Đồng thời, đề nghị bổ sung chế độ hỗ trợ đối với con thành viên cơ quan đại diện là người khuyết tật vào Điều 26 của dự thảo và Chính phủ sẽ xem xét tùy từng điều kiện cụ thể quy định chi tiết điều này.
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cơ quan đại diện nước CHXHCN Việt Nam ở nước ngoài bổ sung quy định cụ thể về tiêu chuẩn bổ nhiệm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền. Quy định này tạo cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định trong quá trình bổ nhiệm nhằm lựa chọn cán bộ xứng đáng, đóng góp hiệu quả cho công tác đối ngoại.
Về ý kiến cho rằng người được bổ nhiệm làm Đại sứ phải từ tầm Vụ trưởng, đại biểu Nguyễn Đức Kiên (Sóc Trăng) băn khoăn: Không biết Bộ Ngoại giao có đủ Vụ trưởng để bổ nhiệm? Cần có đặc thù của ngành ngoại giao, không phải cứ Vụ trưởng mới được làm Đại sứ”.
Đồng quan điểm, đại biểu Đôn Tuấn Phong (An Giang) cho rằng, tiêu chuẩn như đề xuất của Chính phủ là phù hợp. Nếu quy định cứng là Vụ trưởng trở lên thì không phù hợp thực tế.
Dự thảo Luật quy định Đại sứ phải trong độ tuổi đủ để hoàn thành ít nhất một nhiệm kỳ công tác (36 tháng), trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ. Đại biểu Đôn Tuấn Phong bày tỏ đồng tình với dự thảo, đồng thời cho rằng không nên quy định quá cứng và nên cân nhắc vì những người có tuổi không đủ một nhiệm kỳ nhưng có uy tín ở nước sở tại, có kiến thức, kinh nghiệm vẫn có thể được trao nhiệm vụ. Tuy nhiên, đại biểu cũng nhấn mạnh cần quy định chặt chẽ để tránh trường hợp đặc biệt lại thành phổ biến.
![]() |
| Đại biểu Đỗ Văn Bình (Hải Phòng) thảo luận tại hội trường ngày 3- 11. |
Kết nối 4 vùng kinh tế trọng điểm
Trình bày Tờ trình về chủ trương đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2017 – 2020, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Nguyễn Văn Thể nêu rõ, việc đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông không thể trì hoãn, nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế; đáp ứng nhu cầu vận tải trên hành lang kinh tế Bắc - Nam, phục vụ phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là một số đoạn có nhu cầu cấp bách nhằm sớm khắc phục tình trạng ùn tắc và tai nạn giao thông; giải quyết những hạn chế mà các tuyến quốc lộ, đặc biệt là Quốc lộ 1 không thể đáp ứng; đồng thời, là lựa chọn khả thi trong bối cảnh đường sắt tốc độ cao chưa thể đầu tư sớm.
Dự kiến lộ trình đầu tư các đoạn trên tuyến cao tốc Bắc – Nam là: giai đoạn 2017 - 2020 đầu tư các đoạn Cao Bồ - Bãi Vọt, Cam Lộ - La Sơn, Dầu Giây - Nha Trang và cầu Mỹ Thuận 2. Giai đoạn 2021-2025: đầu tư và đưa vào khai thác các đoạn Bãi Vọt - Cam Lộ, Quảng Ngãi - Nha Trang và mở rộng đoạn La Sơn - Túy Loan lên thành quy mô 4 làn xe. Giai đoạn sau 2025: đầu tư đoạn Cần Thơ - thành phố Cà Mau.
Sơ bộ tổng mức đầu tư giai đoạn 2017 - 2020 khoảng 118.716 tỷ đồng, theo mặt bằng giá quý 2 năm 2017. Nguồn vốn Nhà nước hỗ trợ khoảng 55.000 tỷ đồng; bao gồm: 14.155 tỷ đồng thực hiện giải phóng mặt bằng; 27.694 tỷ đồng hỗ trợ xây dựng các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP); 13.151 tỷ đồng cho các đoạn đầu tư công. Nguồn vốn huy động từ các nhà đầu tư khoảng 63.716 tỷ đồng; bao gồm vốn chủ sở hữu khoảng 12.743 tỷ đồng, vốn vay khoảng 50.973 tỷ đồng.
Trình bày Báo cáo thẩm tra nội dung này, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh nêu rõ, Ủy ban Kinh tế cơ bản tán thành với sự cần thiết đầu tư dự án như đã nêu trong tờ trình của Chính phủ. Đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - Nam phía Đông có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của đất nước, kết nối trung tâm chính trị thủ đô Hà Nội và trung tâm kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, đi qua 32 tỉnh, thành phố và các vùng kinh tế - xã hội của cả nước và đặc biệt là kết nối 4 vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long…
Tuy nhiên, Ủy ban Kinh tế đề nghị Chính phủ cần thuyết minh chi tiết hơn về căn cứ phân chia các dự án thành phần, đề xuất các giải pháp tổng thể xử lý đối với những hạn chế đã nêu trong Báo cáo giám sát của UBTVQH để có phương án hợp lý khi quyết định áp dụng đầu tư hình thức hợp đồng BOT.
Quy định rõ về nợ công
Thảo luận về dự án Luật Quản lý nợ công (sửa đổi), đại biểu Quốc hội góp nhiều ý kiến về phạm vi nợ công, quản lý nhà nước về nợ công, giám sát việc quản lý nợ công, những hành vi bị cấm trong quản lý nợ công, xử lý vi phạm pháp luật về quản lý nợ công, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan trong quản lý nợ công, chỉ tiêu an toàn nợ công, chiến lược nợ công, kế hoạch vay, trả nợ công, chương trình quản lý nợ trung hạn, quỹ tích lũy trả nợ, quản lý cho vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ...
Đại biểu Mai Hồng Hải (Hải Phòng) thống nhất phạm vi điều chỉnh nợ công là nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh, nợ chính quyền địa phương và cho rằng nợ tự vay, tự trả của doanh nghiệp nhà nước không thuộc phạm vi nợ công là hợp lý. Đại biểu băn khoăn về quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, cơ quan ngang bộ trong quản lý nợ công. Theo đại biểu, quy định Bộ Tài chính là đầu mối giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về nợ công và quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tài chính, còn Bộ ngành khác do Chính phủ phân công là phù hợp, khẳng định trách nhiệm đầu mối của Bộ Tài chính nhưng vẫn tạo quyền chủ động phân công điều hành của Chính phủ. Tuy nhiên cần làm rõ và sâu sắc hơn nhiệm vụ quyền hạn, thậm chí là trách nhiệm của Bộ Tài chính với tư cách là đơn vị đầu mối ở khâu quản lý sử dụng vốn vay, trả nợ và các nghiệp vụ quản lý nợ công. Đại biểu đề nghị nên quy định Chính phủ quyết định các lĩnh vực, ngành được xét cấp bảo lãnh giai đoạn 5 năm và cho xét danh mục chương trình, dự án cụ thể được bảo lãnh hàng năm cùng với xét chủ trương cấp bảo lãnh theo khoản 1 - điều 42…