(HPĐT)- Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn cam go, ác liệt, từ Bến K15 (Đồ Sơn), những con tàu nhỏ bé - được gọi với cái tên trìu mến “Tàu không số” - âm thầm rẽ sóng biển Đông, mang theo vũ khí, khí tài và lực lượng chi viện cho chiến trường miền Nam. Trong Đoàn vận tải thủy 759 (thành lập ngày 23-10- 1961) - tiền thân của Đoàn 125 Hải quân - có nhiều người con ưu tú của quê hương Hải Phòng tham gia hành trình “mở đường trên sóng”, góp phần làm nên con đường huyền thoại: “Đường Hồ Chí Minh trên biển”, viết tiếp trang sử hào hùng, góp phần to lớn vào sự nghiệp thống nhất non sông.

Mở đường chiến lược
“Tháng 2-1964, như bao thanh niên phường Hải Sơn (quận Đồ Sơn) khi ấy, tôi hăng hái lên đường theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Sau hai tháng huấn luyện tại Trường 70 (Bộ Tư lệnh Hải quân), tôi được điều động về Đoàn tàu không số, nhận nhiệm vụ trên tàu sắt C41, sau này mang phiên hiệu HQ671 (tiền thân là tàu gỗ Phương Đông 1). Khi đó, thuyền trưởng là đồng chí Hồ Đắc Thạnh, quê ở Phú Yên - người sau này được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Chính trị viên là đồng chí Trần Hoàng Chiếu, quê Vĩnh Long. Tàu được biên chế khoảng 20 cán bộ, chiến sĩ, ngoài ra còn có một số cán bộ được đưa đi chi viện cho chiến trường miền Nam" - ông Hoàng Gia Hiếu, Phó chủ tịch Hội truyền thống “Đường Hồ Chí Minh trên biển” thành phố Hải Phòng, xúc động kể lại.
Trước yêu cầu của kháng chiến chống Mỹ, tháng 7- 1959, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở tuyến vận tải chiến lược bằng đường biển vào miền Nam. Tiểu đoàn 603 được thành lập dưới tên Tập đoàn đánh cá sông Gianh, thí điểm chuyến đi đầu tiên đưa vũ khí vào Khu 5 dịp Tết Canh Tý 1960, nhưng chuyến đi bất thành do thời tiết xấu và gặp địch. Tiểu đoàn 603 tạm ngừng hoạt động. Trong khi đó, nhu cầu vũ khí phục vụ chiến trường miền Nam ngày càng cấp bách. Cuối năm 1961, đầu năm 1962, có 5 thuyền của lực lượng kháng chiến Nam bộ ra Bắc, gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, bày tỏ nguyện vọng xin vũ khí về đánh giặc. Bác đồng ý chủ trương mở đường biển vận chuyển vũ khí vào miền Nam. Ngày 23-10-1961, lực lượng vận tải quân sự trên biển mang tên Đoàn 759 được thành lập, có nhiệm vụ vận chuyển hàng hóa, vũ khí tiếp tế cho chiến trường miền Nam. Cùng với Đoàn 559 mở “đường Hồ Chí Minh trên bộ”, Đoàn 759 được giao nhiệm vụ mở “Đường Hồ Chí Minh trên biển”. Tháng 8-1962, Đoàn 759 nhận 4 chiếc tàu gỗ từ xưởng đóng tàu 1 (Hải Phòng). Mặc dù tàu nào cũng có số hiệu, nhưng gọi là “Tàu không số”, vì để bảo đảm bí mật, khi vào “ăn hàng” tàu không treo số, khi ra biển, tùy từng tình huống sẽ dùng số giả và cờ của các quốc gia khác nhau. Tại Đồ Sơn, ngày 11-10-1962, chiếc tàu gỗ mang tên Phương Đông 1 chở 30 tấn vũ khí nhổ neo, vào cửa Vàm Lũng, xã Tân Ân, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau. Tin thắng lợi của chuyến đi đầu tiên được báo cáo lên Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Người gửi điện biểu dương… Sau này, Đoàn 759 được giao cho Quân chủng Hải quân, đổi tên thành Đoàn 125. Từ đây, đoàn “Tàu không số” bước vào giai đoạn vận chuyển hiệu quả nhất…
Khúc tráng ca trên biển
Hồi tưởng lại những kỷ niệm trên tàu C41, ông Hoàng Gia Hiếu không thể nào quên 5 chuyến được vào bến, trong đó, chuyến đầu tiên tàu mắc cạn ở khu vực quần đảo Hoàng Sa. “Khi đó, cứ vào Hoàng Sa là… mất tàu. Tàu vào rạn san hô, sau khi nước rút, tàu mắc cạn làm san hô vỡ ra là tàu đắm. Từng có tàu bị mắc cạn ở Hoàng Sa không ra được, mất tàu, mất vũ khí. Tàu C41 cũng bị rơi vào cảnh tương tự. Với quyết tâm của cấp ủy, chi bộ là không để mất tàu, không để mất vũ khí, các cán bộ, chiến sĩ lao xuống biển, chống tàu, đỡ tàu và phá san hô, kiên quyết giữ bằng được tàu cân bằng để không chìm. Đến khoảng 3- 4 giờ sáng hôm sau, nước lớn lên, tàu được ra kéo khỏi bãi cạn và tiếp tục hành trình đến đúng địa điểm…”, ông Hiếu kể.
Rồi, chuyến 2, chuyến 3, chuyến 4, chuyến nào cũng có những kỷ niệm riêng. Trong hải trình thực hiện nhiệm vụ, các chiến sĩ Hải quân gặp rất nhiều khó khăn phải khắc phục, nhất là hạn chế về phương tiện, khí tài hàng hải. Tàu chỉ có la bàn, máy đo phương vị, nhưng toàn tàu vẫn đi đúng hướng, bởi thuyền trưởng dày dạn kinh nghiệm, thông thạo hải trình, nhiều năm đi biển và lái tàu rất giỏi. Tàu tới đâu có người ở đó đón, từ Vũng Rô cho tới Cà Mau... Có chuyến đi tới Vũng Rô thì Tàu C41 gặp địch, nhưng Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh bình tĩnh đưa con tàu vòng tránh, không đối đầu với địch. 3 chuyến hàng từ Vũng Rô được tổ chức an toàn, vận chuyển 180 tấn vũ khí ra tiền tuyến…
Chuyến cuối cùng ở tàu C41 là kỷ niệm không bao giờ quên đối với ông Hoàng Gia Hiếu, đó là chuyến đi Quảng Ngãi. Đêm hôm đó, tàu đang trên đường đi vào thì bị địch phát hiện. Tàu gần đến bờ rồi, cấp ủy quyết định cứ vào thả hàng, nếu không ra được thì phá tàu. Cuối cùng, tàu không ra được nữa vì phía ngoài tàu chiến địch tuần tiễu, trên tàu chỉ còn duy nhất 3 khẩu 12 ly 7. Cấp ủy, chỉ huy đơn vị quyết định để cán bộ, chiến sĩ bốc hàng thả xuống biển, phá tàu và đi bộ sang nhận tàu khác... Từ sau chuyến đó, ông Hiếu cùng đồng đội chuyển sang tàu 42. Từ tháng 10-1969 đến tháng 11-1971, các ông cứ đi lại về, không thể vào bến thêm chuyến nào nữa. Mỗi chuyến cả tháng trời lênh đênh trên biển vừa đi vừa về, trên đầu luôn có máy bay trực, tàu khu trục Mỹ và tàu khu trục ngụy (tàu Trần Khánh Dư) thay phiên đi theo tàu…
“Ngày giải phóng miền Nam, chúng tôi đi tàu này chở quân ra giải phóng Trường Sa, sau đó ở lại canh Trường Sa. Chúng tôi được Bộ Tư lệnh điều động về Nha Trang, vào tiếp quản xưởng sửa tàu của Mỹ tại Vũng Rô. Năm 1981, tôi ra quân, về Hải Phòng...”, ông Hiếu hồi tưởng lại.
HẢI HẬU14 năm, Đoàn tàu không số “rạch biển Đông để cứu sơn hà”. Từ 38 cán bộ, chiến sĩ và 5 chiếc thuyền gỗ thô sơ đầu tiên, lực lượng, phương tiện thực hiện nhiệm vụ trên tuyến đường biển chiến lược - Đường Hồ Chí Minh trên biển ngày càng được tăng cường. Trong 14 năm (1961-1975), ta huy động 1.879 lượt tàu, thuyền, vượt 4 triệu hải lý, vận chuyển gần 153.000 tấn vũ khí trang bị kỹ thuật, hàng hóa và hơn 80.000 cán bộ, chiến sĩ từ miền Bắc vào miền Nam.