Mười nén nhang ở ngã ba Đồng Lộc
Ở Việt Nam, thơ bắt nguồn từ những câu nói có vần điệu, tục ngữ, ca dao, hò vè…, được xuất hiện trong muôn mặt của đời sống con người. Đặc biệt nhất, thơ vọng lên từ lời ru êm ái, thân thương của mẹ hiền. Con người sinh ra trên xứ sở Á Đông này, ai cũng được tắm trong dòng suối mát lành qua lời ru cùng tiếng võng kẽo kẹt ầu thơ thuở nào của mẹ. Những câu thơ từ lời ru ấy thành những viên ngọc sáng mãi trong tâm hồn mỗi con người. Từ cảm nhận ấy, tôi quan niệm rằng, ngôn ngữ thơ ca của chúng ta mang thiên tính Mẫu.

Cụm tượng 10 nữ thanh niên xung phong tại Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh). (Ảnh: zing.vn)
Tôi xướng danh Mẫu trong bài viết nhỏ này với ý nghĩa là người mẹ sinh thành ra chúng ta, đồng thời cũng mang hàm nghĩa người mẹ thiên nhiên, cội nguồn những dòng sông, dòng thác, nơi ấp ủ giống cây, muông thú mới được sinh ra… Mẫu cũng chính là Tam Tòa Thánh Mẫu, Tứ Vị Chầu Bà trong đạo Mẫu của Việt Nam, mà những khúc hát văn, hát bóng là những bài thơ lục bát được ngâm xướng lên cùng với tiếng đàn nguyệt, trống ban, phách, cảnh, thanh la, sáo, đàn thập lục, đàn nhị, kèn bầu, chuông, mõ, đàn bầu trong nghi thức tế lễ.
Tôi từng viết thơ về mẹ, trong đó có bài “Cửa Mẫu” dựng lên hình tượng mẹ thiên nhiên cũng là mẹ sinh thành trong cơn đau sinh nở: “Đặt con lên đất/ Lòng sông đau xé thân đêm/ Thiên nhiên láng ướt/ Thân cây rã rời từng đốt/ Nước xiết/ Chảy nhanh hơn”. Tôi viết bài thơ này với lòng biết ơn sâu sắc nhất gửi tới các mẹ, các chị em phụ nữ mang trách nhiệm cùng thiên tính cao cả sinh ra loài người.
Hình tượng Mẫu in dấu trong tôi tự nhiên và gần như bản năng, nên tôi luôn mang cảm thức tất cả phụ nữ trên thế gian này đều là mẹ mình. Do vậy, khi viết những câu thơ tình để dâng hiến người phụ nữ mình yêu thương, tôi luôn cảm thấy cần phải hóa thân bé nhỏ hơn để tạ ơn Nàng. “Giữa em là anh/ mộtcon hoẵngvừa sinh trên cỏ ướt/ một bát nướcngùnngụt bốc hơi/ mộtthế giới đang vội vàng hoàn hảo” (Hình đám cỏ, Nhịp VI).
Trong giai đoạn khởi đầu sáng tác, vào ngày đầu hè tôi về thăm Ngã ba Đồng Lộc, đến viếng mộ mười liệt sĩ thanh niên xung phong từng canh giữ giao điểm, phá bom, sửa đường thông xe khi bị bom Mỹ phá hoại. Trưa ngày 24-7-1969, quả bom rơi xuống sát miệng hầm nơi mười cô đang tránh bom. Tất cả hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ, phần lớn trong số họ chưa lập gia đình, tuổi từ 17 đến 24. Từng có nhiều tác phẩm viết về mười liệt sĩ anh hùng này. Xúc cảm của riêng tôi bắt nguồn từ những điều bình dị của đời sống hạnh phúc lúc đất nước thanh bình. Tôi kính trọng và thương các cô, có những người trong đó chưa có người yêu, chưa được làm vợ, làm mẹ. Trong khói sương linh thiêng của buổi chiều hôm ấy, tôi viết mười câu thơ lục bát thay mười nén nhang viếng mười hương hồn anh hùng liệt sĩ. Bài thơ ấy như sau:
Tháng ngày gương lược về đâu
Chân trời để xõa một màu cỏ non
Các cô nằm lại trên cồn
Những chùm bồ kết khô giòn trong cây
Khăn thêu những dấu tay gày
Thành mây Đồng Lộc bay bay trắng trời
Người ơi, tôi lại gặp người
Hơi bom vẫn thổi rụng rời cát khô
Nhang này quặn nỗi đau xưa
Tôi nay tôi của cơn mưa về nguồn.
Mười liệt sĩ thanh niên xung phong vĩnh viễn nằm lại nơi Ngã ba Đồng Lộc, cũng như bao phụ nữ Việt Nam anh dũng ngã xuống vì nền độc lập của dân tộc. Họ hóa thân thành đất đai, cây cỏ sông nước, thành Mẫu che chở, độ trì cho những thế hệ kế tiếp, cho non sông này.
Thế giới thơ có rất nhiều góc nhìn để thấy được vẻ đẹp quyến rũ cùng những đức tính cao cả, bao dung, giàu lòng vị tha, nhân hậu của phụ nữ Việt Nam. Nhân ngày Quốc tế phụ nữ 8-3, tôi chọn những vần thơ viết về mẹ, cảm thức về mẹ để gửi tới các mẹ, các chị, các em lòng biết ơn sâu sắc nhất từ nơi sâu thẳm trái tim tôi. Xin được coi những vần thơ nhỏ, chân thành của tôi là lời chúc tốt lành gửi tới tất cả bạn đọc Hải Phòng cuối tuần được sống trong ngôi nhà hạnh phúc và ấm áp.
Nhà thơ Mai Văn Phấn