Từng vách ngăn tỏa sáng
Trong số 9 tác giả đoạt giải cuộc thi này, Nguyễn Thị Thùy Linh là nhà thơ trẻ nhất. Chị sinh năm 1991, được Ban tổ chức cuộc thi đánh giá là một hiện tượng thơ mang “vẻ đẹp trong mỹ cảm mới” (Nguyễn Việt Chiến). Cùng với hai bài thơ đoạt giải, một số bài thơ lục bát khác của Thùy Linh có thể coi là những tác phẩm trình làng.
Tôi từng nhận xét tổng quan thơ Nguyễn Thị Thùy Linh khi chị đoạt tiếp giải cao trong cuộc thi thơ của tạp chí Văn nghệ Quân đội 2015 – 2016: Thơ Nguyễn Thị Thùy Linh khởi nguồn từ miền lục bát đến với thế giới giao thoa nhiều tầng bậc, khá lạ lẫm. Đời sống nhân sinh và tâm linh, hữu hình và vô hình trong đó đều được hiển lộ gần gũi, sáng tỏ. Như có vô vàn những vách ngăn, nếp gấp trong thế giới thơ ấy. Mỗi câu thơ như hoàn thiện một mặt cắt trong tổng thể cấu tứ bài thơ. Rồi câu thơ tiếp theo trong bài lại như bất chợt một mặt cắt khác, tiếp giáp, chồng xếp, đan cài vào những câu thơ xuất hiện trước đó. Cách viết ấy giúp bạn đọc cảm nhận trong cõi thơ của chị có nhiều không gian nhỏ, chiếu thông và tỏa sáng cho nhau.
Dung dị, lắng sâu
Tác giả thứ hai cùng đoạt giải Lục Bát Trăng Vàng 2016 là Nguyễn Thị Thúy Ngoan - nhà thơ thuộc thế hệ “đàn chị” của Nguyễn Thị Thùy Linh cả tuổi đời và những thành tựu đóng góp trong đời sống văn học thành phố. Nhà thơ Thúy Ngoan đã xuất bản một số tập thơ: “Bão mùa thu” – 1998, “Trăng góa” – 2006, “Nón không quai” – 2008, “Ngôi nhà không bình yên” – 2010, “Khách xuân” – 2014, “Yêu” – 2018… Thơ Nguyễn Thị Thúy Ngoan dung dị, lắng sâu, tạo hấp lực bằng cảm xúc. Chị thường sử dụng những chi tiết của đời sống thường nhật và đặt trong những tình huống bất ngờ, có lúc khá éo le, trĩu nặng nỗi đau thân phận, làm phát lộ những tứ thơ độc đáo, quen thuộc mà lạ lẫm, có sức cuốn hút mạnh mẽ.
Qua chùm thơ đoạt giải cuộc thi Thơ Lục bát 2016 cho thấy, thơ lục bát của hai tác giả có những điểm tương đồng và cũng nhiều khác biệt. Sự tương đồng thể hiện trong những bài thơ mang tính tự truyện và thường gắn bó với những nhân vật cụ thể. Thúy Ngoan kể về người em của mình và “người ấy” trong kỷ niệm riêng tư. Thùy Linh tâm sự về bà nội và nơi “chôn nhau cắt rốn” gắn kết với bất kỳ người ViệtNamnào: ngôi làng. Mỗi nhân vật trong từng bài thơ đều có lịch sử, tính cách và gương mặt riêng chìm nổi trong mạch suy cảm của mỗi tác giả.
Sự tương đồng...
Thơ lục bát Thùy Linh và Thúy Ngoan có sự đồng điệu xét trên bình diện tổ chức câu thơ. Cả hai tác giả đều có cách viết tung hứng, khêu gợi các thi ảnh, cho hình ảnh xuất hiện trong nửa đầu câu thơ (cả câu sáu và câu tám). Những hình ảnh này được các tác giả bày đặt chủ động trong tâm thức, bằng kỷ niệm, bằng ẩn ức, tưởng tượng... Đây có lẽ là giai đoạn lý trí tỉnh táo của người viết. Nhưng nửa câu thơ còn lại sau đó, hai tác giả để cho cảm xúc chảy trôi, kéo mình đi để hoàn tất câu thơ. “Nhớ ngày em đi làm dâu/ Trăng tròn mười sáu lưng cầu gió đưa” (Em tôi), hay, “Người về phía ấy qua cầu/ Để tôi gẫy nhịp sông sâu vớt về” (Khoảng cách) của Nguyễn Thị Thúy Ngoan. Hình ảnh “lưng cầu gió đưa” trong dẫn chứng trên chính là ánh xạ, sự thăng hoa của “trăng tròn mười sáu”, cũng như hình ảnh “sông sâu vớt về” là hệ quả, một chuyển động khác nữa phát sinh sau sự kiện “gẫy nhịp” vừa xảy ra ở nửa đầu câu thơ.
Nguyễn Thị Thùy Linh cũng có cách tổ chức câu thơ tương tự: “Áo bà đã hóa phù sa/ Ao sen lặng giữa chén trà mùa thu” (Bà nội); “Gọi làng trong mấy bờ tre/ Tiếng gà xao xác cơn mê cuối đồng” (Làng). Bạn đọc chắc dễ nhận ra những hình ảnh phân mảnh trong các câu thơ này. “Ao sen” đặt bên cạnh “chén trà mùa thu”, hay “tiếng gà xao xác” đi liền với “cơn mê cuối đồng” đã biến những điều phi lý thành hợp lý.
...và những khác biệt
Bên cạnh sự tương đồng, thơ Lục bát Thùy Linh và Thúy Ngoan có nhiều khác biệt. Thơ Thúy Ngoan, kể cả những bài thơ tự do thường biểu đạt theo mạch tự sự đơn tuyến. Tác giả, trong vai trò người sáng tạo, dẫn chuyện thường xuất hiện ở ngôi thứ nhất, xưng “tôi”, có lúc xưng “em”, hoặc có lúc ẩn giấu đại từ nhân xưng nhưng chị vẫn cho bạn đọc hiểu được vị thế của người kể chuyện. “Tôi con đò nhỏ phiêu diêu/ Lênh đênh sông nước hứng nhiều khổ đau” (Khoảng cách). Chuyển dịch của mạch thơ Thúy Ngoan thường bám sát tính xác thực của sự kiện đời sống và vận dụng tối đa cách nói dân dã, rất gần với ca dao, dân ca, tục ngữ... “Bấm tay tuần nữa lên đường/ Trường Sơn lửa khói dặm trường xẻ đôi” (Em tôi). Tính tự sự trong thơ Thúy Ngoan đôi khi tạo được sự đột khởi, độc sáng. Câu thơ “Trường Sơn Người nghỉ yên rồi/ Em tôi hóa đá nung vôi kiếp mình…” (Em tôi) thực sự đã xuất hiện một tầm vóc, như bật mở cánh cửa, cho bạn đọc nhìn vào sâu hút đời sống khắc nghiệt của những thân phận người trong chiến tranh. Và giờ đây, nó luôn nung nấu, vẫy gọi trong ký ức những người đương thời.
Khác với Nguyễn Thị Thúy Ngoan, thơ Nguyễn Thị Thùy Linh kết nối câu chuyện bằng đa điểm nhìn, đa tuyến tính. Ở đó nhiều không gian được đan cài trong một mạch thơ. Tính đa nghĩa, sự mông lung trong thơ của tác giả này tạo trong mỗi người đọc những điểm nhìn, cách cảm thụ riêng tùy thuộc vào kiến thức và trải nghiệm của họ. Thơ Thùy Linh là bày đặt sân chơi mời gọi bạn đọc cùng sáng tạo.
Lục bát vốn là thể thơ dễ viết mà khó hay, điều ấy ai cũng biết! Hai tác giả Nguyễn Thị Thùy Linh và Nguyễn Thị Thúy Ngoan từng thành công trong nhiều thể loại thơ và cũng sở hữu “thế mạnh” khi viết lục bát. Những đóng góp của hai nhà thơ trong thể thơ lục bát thật đáng trân quý, góp phần để tiếng Việt của chúng ta ngày càng đẹp hơn, trong sáng hơn. g
1 - Cuộc thi do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam phối hợp với website Lục bát Việt Nam, Tạp chí Hữu nghị, Tạp chí Văn hiến Việt Nam, Tạp chí điện tử Viettimes, Công ty Quảng cáo Báo chí Truyền hình Việt Nam đồng tổ chức.
2 -Sáu tác giả được trao giải Lục Bát Trăng Bạc 2016: Trần Kế Hoàn (Nam Định), Vũ Xuân Hồng (Quảng Ninh), Huy Trụ (Thanh Hóa), Nguyễn Văn Đôn (Tây Ninh), Hoàng Việt Tài (Quảng Ninh), Trần Huy Minh Phương (TP. Hồ Chí Minh).
Nhà thơ Mai Văn Phấn