Tính khách quan trong thơ Nguyễn Thị Hải

Mai Văn Phấn 15/06/2024 21:57

Nhà thơ Nguyễn Thị Hải sinh năm 1983 tại Vĩnh Bảo. Từ năm 2002, chị sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2012, chị xuất bản tập truyện ngắn đầu tay "Quả đồi phía Tây" (NXB Văn hóa - Văn nghệ). Gần đây nhất, chị công bố tập thơ "Trước bến" (Cổ thi tư cảm, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2022).

Nhà thơ Nguyễn Thị Hải. 

Tôi nhớ có lần đàm đạo cùng nhà thơ, đạo diễn Đỗ Minh Tuấn trong một quán trà ở Hải Phòng. Ông hỏi, liệu có thể chọn một từ để gọi ra bản chất của thơ cách tân hiện nay không? Tôi đáp nhanh: Khách quan. Tôi có đọc cho ông nghe thơ của một vài tác giả tiêu biểu cho khuynh hướng này để minh chứng cho lựa chọn của mình. Câu chuyện hôm đó hầu như chưa đi đến hồi kết, và nó luôn làm tôi trăn trở tới tận hôm nay và chắc còn đến mãi sau này. Rồi tình cờ, tôi đọc được thơ Nguyễn Thị Hải trên một số website và mạng xã hội và nhanh chóng bị cuốn hút bởi lối thơ dung dị, khách quan, đầy ắp những cảm thức về làng quê Việt xưa và nay. Sau đấy, tôi may mắn có được hai tập thơ của chị: "Con cừu của hoàng tử bé, cổng ngõ của tôi" (NXB Đà Nẵng, 2017) và "Một dòng tiểu sử của bạn tôi" (NXB Đà Nẵng, 2018). Hai tập thơ này của Nguyễn Thị Hải là một minh chứng thuyết phục về tính khách quan của thơ cách tân, khiến tôi mong gặp lại Đỗ Minh Tuấn để tiếp tục luận bàn câu chuyện thơ hôm nào.

Xin trích dẫn một bài thơ của Nguyễn Thị Hải, mà tôi cho rằng cả tiêu đề bài thơ và nội dung sau đây là một tuyên ngôn về phong cách thơ của tác giả này. Sao không viết tựa đề là hoa nhài/ Rồi cả bài thơ chỉ nói về hoa bưởi/ Sao không viết tựa đề là sông thu/ Rồi cả bài thơ chỉ kể về ngọn núi// Từ tựa đề đến bài thơ/ Là khoảng cách từ khóm hoa nhài đến cây hoa bưởi/ Từ dòng sông mùa thu đến ngọn núi mùa xuân/ Thơ sẽ đến bên ta làm một bạn đồng hành(Bạn đồng hành).Ở đây, phải chăng thơ là sự hiện hữu tự thân. Nhờ thi pháp mà thơ được trình hiện, nhưng chính thơ lại mang ý thức chối từ tất cả mọi thi pháp, thủ pháp, chối từ cả những biện pháp tu từ, ẩn dụ quanh nó.

Nhớ lại cuộc cách mạng Thơ Mới những năm 1932-1945, cùng với sự bùng nổ ngôn từ, làm nở rộ cái tôi cá nhân, một cái tôi chủ quan mang tính cao ngạo của nghệ sĩ, chi phối đối tượng được phản ánh. "Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất" (Xuân Diệu). Từ đỉnh "Thứ Nhất" ấy, cái tôi trong thơ Việt đã thay đổi, biến thành cái ta trong thơ kháng chiến, để rồi trở lại thành cái tôi khác biệt như bây giờ. Nếu khởi đầu Thơ Mới là cái tôi chủ quan, thì trong thơ cách tân hiện nay là cái tôi khách quan, mang tinh thần nhân văn, sự thức tỉnh ý thức cá nhân trong không-thời-gian đa chiều. Cái tôi khách quan hiện được thể hiện khá phong phú và đa sắc thái trong thơ Việt đương đại, nó có thể đứng độc lập hay hòa lẫn vào ý thức chủ quan của người viết.

Nhưng trong thơ của Nguyễn Thị Hải, cái tôi khách quan được thể hiện độc lập, rõ nét. Chị không chủ ý đồng hóa, chinh phục, hay hóa thân vào đối tượng được phản ánh, mà bày đặt, khơi gợi cho nó xuất hiện chân thật, sống động nhất có thể, trả mọi thứ về bản chất tự nhiên của chính nó. Đây là tâm trạng của người đàn bà mang thai lần thứ năm khi ngửi thấy mùi hoa hòe bay vào cửa sổ: "Trút hết cùng hoa hòe/ Hoa hòe cũng trút cạn/ Bầu hương nồng sẻ chia/ Hoa trắng xanh nhợt nhạt" (Con trai). Mối liên hệ giữa người đàn bà và những bông hoa hòe là sự thương cảm, thấu hiểu và sẻ chia cho nhau. Hai nhân vật trong bài thơ như muốn tìm đến nhau và vươn ra bên ngoài. Tuy vậy, người đọc vẫn nhìn thấy giữa họ là khoảng cách qua một khung cửa sổ. Sự bí ẩn đầy hấp dẫn của thơ Nguyễn Thị Hải nằm ở những khoảng cách như thế này. Nó là độ dài và thời gian để tạm đo nỗi niềm, những trăn trở của người đàn bà kia. Khoảng cách ấy cũng chính là hành trình của cảm xúc, của tưởng tượng mà tác giả chủ ý để ngỏ cho bạn đọc.

Tính khách quan trong thơ Nguyễn Thị Hải được biểu đạt bằng bút pháp độc đáo và tối giản, thường đột hiện, lóe sáng trong những câu chuyện bình dị đời thường. "Mẹ giặt vò bằng đôi bàn tay ưu tư cần mẫn/ Nước ao trong vỗ mãi tiếng lòng của mẹ" (Áo con thơ). Chuyện thường ngày người mẹ vẫn giặt áo cho con, nhưng nhà thơ đã gây bất ngờ với câu thơ "Nước ao trong vỗ mãi tiếng lòng của mẹ". Tiếng "vỗ mãi" kia không chỉ vang vọng ở cuối bài thơ mà lặng lẽ lan tỏa ngay từ câu thơ đầu tiên, từ hình bóng đứa con chạy tung tăng với những giấc mơ đơn độc, nhưng khi ấy ta chưa thể đoán biết. Chỉ đến khi đọc hết bài thơ thì ánh sáng từ câu thơ cuối mới lóe lên, cho ta nhìn rõ chân dung một người mẹ dung dị, chân chất mà cao cả đến lạ kỳ.

Trong bài thơ "Cẩm tú cầu", tính khách quan được tác giả kiến tạo trong sự tương thông giữa ba nhân vật: "bông hoa cẩm tú cầu", "loài bọ giống muỗi" và tác giả - được ẩn danh trong văn bản. Ghen tị với loài bọ giống muỗi/ Để lại dấu vết mờ nhạt trên cánh hoa/ Ánh mắt chứa đầy lưu luyến" (Cẩm tú cầu). "Ánh mắt chứa đầy lưu luyến" là hình ảnh, cách nói quen thuộc trong thơ truyền thống, nhưng nó mang lại bất ngờ, lạ lùng khi nằm trong khổ thơ trên. Câu thơ ấy cho thấy tác giả và bông hoa cùng chuyển dịch mỗi lúc một xa thêm. Chữ "lưu luyến" đặt trong câu thơ trên mang nội hàm khác với nghĩa thông thường, nó không bịn rịn, kết dính mà ngưng tụ sau những chuyển dịch tách rời, xa cách.

Đọc thơ Nguyễn Thị Hải, tôi hình dung tác giả là người song hành cùng những câu chuyện chị kể. Vẫn bằng cách thiết lập hình ảnh mang tính khách quan, đôi khi tác giả kiến tạo một hiện thực kì ảo, giả tưởng để song song với hiện thực đồng dạng của đời sống, nhằm khơi lộ tinh thần, bản chất của từng sự vật, hiện tượng.Bằng giọng thơ nhẹ nhàng mà thâm sâu, nhà thơ tâm sự với chúng ta những mẩu chuyện đời thường của chị, xảy ra xung quanh chị. Tuy bình dị nhưng thật đẹp và kì ảo, những trang thơ của chị mở ra trước mắt chúng ta một thế giới phong phú và sống động.

Thủ pháp làm ảo hóa những nhân vật, sự kiện lịch sử có thật này khiến những giấc mơ, khát vọng hiện lên rõ nét. Ở thơ Nguyễn Thị Hải, yếu tố kì ảo là hình chiếu, là luồng sáng tỏa ra từ tâm thế, nhãn quan của người viết, là khao khát, tiếng vọng của một người muốn lưu giữ những căn tính một vùng văn hóa giàu bản sắc. "Linh hồn của cơm canh mùi vị/ Thếp vào tầng khí quyển/ Một quê hương phù ảo" (Khói bếp). Trong dòng chảy đời thường có vẻ như luôn xuôi chiều và bình lặng,Nguyễn Thị Hải cho xuất hiện những hình ảnh quen thuộc mà lại gây cảm giác dị kỳ, choáng ngợp. Cái "bàn chân xỏ dép không mang tất/ Đưa ra ngoài bức tranh" trong đoạn thơ dưới đây tựa như ngọn bấc của một cây đèn ngủ yên đã lâu, giờ bỗng nhiên được thắp lửa, cháy sáng. "Một ngày Đà Lạt trở lạnh/ Khách ngắm kĩ bức chân dung sống động/ Phát hiện bàn chân xỏ dép không mang tất/ Đưa ra ngoài bức tranh/ Điềm nhiên tỏa ra hơi ấm" (Chân dung).

Trong cả hai tập thơ của Nguyễn Thị Hải, như tôi nhận thấy, Mùa hè là bài thơ có cấu tứ và ngôn ngữ mang tính khách quan rõ nhất. Đây là câu chuyện kể giản dị và hấp dẫn, trong đó có hai nhận vật, tác giả và con mèo với bối cảnh trời nắng nóng. Bài thơ tựa như nghệ thuật sắp đặt, mỗi chuyển động của nhân vật sự vật trong đó khiến không gian và thời gian thay đổi, chầm chậm như miên mộng. Nguyên văn bài thơ như sau. MÙA HÈ: "Trời nắng nóng/ Bật máy quạt gọi con mèo đến ngồi cùng/ Tóc người tựa cỏ lau trên đồi cao/ Lông mèo tựa cỏ mềm trên mặt đất/ Cùng bay theo chiều gió/ Xào xạc êm đềm/ Chầm chậm cùng đi vào không gian khác/ Mát dịu xanh tươi/ Ở nơi đó/ Mèo lim dim mắt ngủ/ Tặng cho người/ Giấc mộng đơn sơ".

Hai nhân vật trong bài thơ tuy ngồi gần nhau và cùng chung cái quạt điện, chung chiều hướng (“theo chiều gió”), cùng chung tốc độ "Xào xạc êm đềm", song lại chuyển động trên những quỹ đạo riêng (“đồi cao”, “mặt đất”), và hiển thị bằng hai hình tướng khác biệt ("tóc người", "lông mèo"). Và, sự kì ảo ở đây là cả hai "cùng đi vào không gian khác". Khi đó vai trò của họ hoán đổi, chú mèo trở thành nhân vật chủ động khi tặng cho nhân vật người một “Giấc mộng đơn sơ”; trái lại, người thụ động tiếp nhận và êm đềm đi vào mộng, một giấc mộng “mát dịu xanh tươi”, tương phản với thực tại “trời nắng nóng". Cách bày đặt hình ảnh trong bài thơ này chứng tỏ nội lực mạnh mẽ trong bút pháp của Nguyễn Thị Hải.

          Thơ Nguyễn Thị Hải có cấu tứ giản dị, mang cảm thức thơ truyền thống trong không gian đa tầng, hiện đại. Ngôn ngữ thơ Nguyễn Thị Hải không cầu kỳ chau chuốt, gần với cách nói đời thường, nhiều câu khá giống với khẩu ngữ trong dân gian. Một số bài thơ của chị mang âm hưởng của đồng dao với những câu chữ giàu nhạc điệu, rượt đuổi nhau liên tu như gió bay, nước chảy... "Tháng cùng năm tận/ Bán chuối bán cau/ Lấy tiền tiêu Tết/ Bớt ra chút ít/ Sắm chậu bạch mai" (Bạch mai); "Rau đay chỉ lối/ Mồng tơi dẫn đường/ Củ gừng đưa tiễn" (Xổng lu). Có bài như gợi cho ta nhớ cách kể truyền miệng kiểu chuyện cổ tích hoặc dân gian như, "chuyện kể rằng...", "ngày xửa ngày xưa..."...

Đời sống nông thôn hiện ra sinh động trong hai tập thơ của Nguyễn Thị Hải với đa sắc màu và phức điệu, có lúc tựa như cái cây nhẫn nại và đơn điệu trước một ngôi nhà tranh "Ngày hoa tháng quả/ Không sai hạn kỳ" (Cây), có lúc lại giống một bà lão chấp nhận nỗi lẻ loi ăn củ khoai thui thủi một mình cùng "con mèo xám tro cũng già nua thường nằm xó bếp" (Mùa đông). Có lúc, nhà thơ đặc tả những cảnh sinh hoạt ở làng quê rất sống động và hóm hỉnh: "Ngõ gì mà dài thế/ Một người mà như hai/ Ông buồn đánh tráo ông vui/ Ở ngõ nào chẳng rõ" (Ngõ).Văn hóa làng được Nguyễn Thị Hải phục dựng dưới góc nhìn khách quan. Mặc dù thơ chị được tỏa sáng từ văn hóa làng Việt, nhưng tác giả luôn tỉnh táo và khá trầm tĩnh kiến tạo không gian nghệ thuật của riêng mình, không trộn lẫn với phong cách của bất kỳ tác giả nào đi trước. Dưới góc nhìn của Nguyễn Thị Hải, sự chuyển dịch cũng như tiến triển của đô thị hóa nông thôn là quá trình tiếp sức, chuyển giao giữa các thế hệ. Dưới đây là khổ thơ đặc trưng cho phong cách cấu trúc không gian khách quan của chị: "Xa xa có người/ Đi lại hành trình của mình/ Gió thổi ngược/ Vào khuôn mặt cô đơn" (Quê hương).

Dù một vài bài thơ trong hai tập vẫn giữ giọng điệu quyến luyến, bịn rịn của thơ truyền thống, có bài cấu tứ như còn bỏ lửng, nhưng tác giả luôn giữ những khoảng cách nhất định với đối tượng được đề cập. Khoảng cách này làm cho cấu trúc và ngôn ngữ thơ Nguyễn Thị Hải trở nên khách quan. Phải chăng, đó chính là bí quyết thi pháp thơ của chị.

Mai Văn Phấn
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Tính khách quan trong thơ Nguyễn Thị Hải