Ngày 28/10/2025, báo điện tử Hải Phòng đăng bài 'Nguyên đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm'. Ngày 27/3/2026, Tòa án nhân dân thành phố đã xét xử phúc thẩm vụ việc này.

Theo bài báo phản ánh, mẹ chị Huế là bà Đỗ Thị Mặn kết hôn cùng ông Nguyễn Duy Thủy vào năm 1990, tại UBND xã Tam Hưng, huyện Thủy Nguyên (cũ), nay là phường Nam Triệu.
Trước đó, ông Thủy có 3 người con riêng với người vợ đầu đã ly hôn từ năm 1986. Trong thời kỳ hôn nhân, năm 1992, bố mẹ chị Huế mua thửa đất rộng 354 m2 tại thôn xóm Lò, xã Minh Tân, huyện Thủy Nguyên, nay là Tổ dân phố số 9, phường Bạch Đằng với số tiền 6,5 triệu đồng. Ngày 31/12/2007, UBND huyện Thủy Nguyên (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất trên mang tên bố chị Huế là ông Nguyễn Duy Thủy.
Đến năm 2021, ông Thủy mất, các con riêng của ông Thủy dọn về mảnh đất trên sinh sống, chiếm nhà và đất, không cho mẹ con chị Huế vào. Chị Huế và mẹ khởi kiện vụ việc tới Tòa án Nhân dân khu vực 1 yêu cầu chia di sản chung của vợ chồng và chia di sản thừa kế theo quy định.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ngày 29/9/2025, dựa trên lời khai của những người liên quan, dựa trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ mang tên ông Thủy, Hội đồng xét xử sơ thẩm, Tòa án Nhân dân khu vực 1 tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huế và xác định quyền sử dụng thửa đất trên là tài sản riêng của ông Thủy. Ông Thủy có 5 người thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm 3 người con riêng của vợ đầu và bà Mặn, chị Huế.
Hội đồng xét xử sơ thẩm chia quyền sử dụng đất trên thành 7 phần, trong đó mỗi người thừa kế được 1 kỷ phần, 2 kỷ phần còn lại tương đương công sức tôn tạo, quản lý nhà, chăm sóc bố, Hội đồng xét xử sơ thẩm tuyên cho 3 người con riêng của ông Thủy. Đại diện bị đơn là anh Giang được giao quyền sử dụng nhà đất và có nghĩa vụ thanh toán bằng tiền lại cho chị Huế tương đương chỉ 2 kỷ phần của mẹ con chị Huế được nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo pháp luật của chị Huế và bà Mặn khẳng định, thửa đất đang tranh chấp được hình thành trong quá trình hôn nhân bằng tiền chung của 2 vợ chồng ông Thủy, bà Mặn.
Bố mẹ chị Huế không sống ly thân như tòa sơ thẩm nhận định. Đồng thời, khi bố còn sống, mẹ con chị Huế là người trực tiếp đi lại căn nhà đó, quản lý và chăm sóc ông. Chỉ khi bố chị Huế bệnh, những người con riêng mới trở về chiếm nhà, đất và tranh giành tài sản.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định thửa đất là tài sản chung của bố mẹ chị Huế. Từ đó xác định di sản của bố chị Huế để lại là quyền sử dụng 1 nửa thửa đất trên, chỉ chia thành 5 kỷ phần tương ứng với 5 suất thừa kế theo quy định hiện nay và chị Huế đề nghị được nhận phần thừa kế bằng hiện vật.
Về phía bị đơn, các con riêng của ông Thủy bảo lưu quan điểm yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm, xác định thửa đất đang tranh chấp là tài sản riêng của ông Thủy, được mua bằng tài sản riêng của ông Thủy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên một mình ông Thủy.
Căn cứ lời khai của các bên, căn cứ hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cơ bản nhất trí với các kháng cáo của nguyên đơn. Trong đó nhấn mạnh thửa đất trên được mua trong quá trình hôn nhân cần xác định là tài sản chung của ông Thủy, bà Mặn.
Căn cứ lời khai của các bên, căn cứ hồ sơ vụ án, quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định lời khai của một số người liên quan tại thủ tục xét xử sơ thẩm về nguồn gốc hình thành tài sản có mâu thuẫn, không thể là căn cứ để xác định đây là tài sản riêng của ông Thủy.
Trong quá trình xét xử phúc thẩm, bị đơn không cung cấp được căn cứ chứng minh tài sản tranh chấp là tài sản riêng của ông Thủy. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên sửa bản án sơ thẩm, xác định thửa đất đang tranh chấp là tài sản chung của bà Mặn và ông Thủy, được mua trong thời kỳ hôn nhân.
Do đó, di sản thừa kế của ông Thủy để lại là 1 nửa quyền sử dụng thửa đất trên. Hội đồng xét xử chia thành 6 suất kỷ phần, mỗi người thừa kế được 1 suất và 1 suất kỷ phần tương đương công quản lý nhà, tuyên cho 3 người con riêng.
Bản án phúc thẩm đã khép lại một vụ tranh chấp kéo dài, đồng thời làm rõ bản chất pháp lý của tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên theo đúng quy định của pháp luật.
Việc Hội đồng xét xử xác định thửa đất là tài sản chung của vợ chồng không chỉ dựa trên chứng cứ khách quan mà còn phù hợp với tinh thần của Luật Hôn nhân và Gia đình về nguyên tắc bình đẳng tài sản.
Từ phán quyết này có thể thấy, trong các vụ việc tranh chấp tương tự, việc thu thập, cung cấp đầy đủ chứng cứ về nguồn gốc tài sản đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là căn cứ để tòa án xem xét, đánh giá toàn diện và đưa ra phán quyết công bằng.
Đồng thời, bản án cũng là lời nhắc nhở về ý thức pháp luật của người dân trong việc xác lập, quản lý tài sản chung, hạn chế những tranh chấp phát sinh, nhất là trong quan hệ hôn nhân và thừa kế.
TUỆ MINH