Hải Dương trấn thành, thành của trấn Hải Dương được xây dựng năm 1804 theo quyết định của Vua Gia Long.

Các phố Minh Khai, Sơn Hòa (TP Hải Dương) vẫn còn giữ được một số công trình
kiến trúc từ cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Ảnh: Thành Chung
Vì thành nằm ở phía đông Thăng Long nên được gọi là Thành Đông. Ban đầu Thành Đông chỉ là một trung tâm quân sự, hành chính, một đồn binh với dinh thự của các quan chức đầu tỉnh như: tổng đốc, bố chánh, án sát, lãnh binh… Trong thành chỉ có quan quân, không có dân.
Do nhu cầu của đời sống, người nhà quan quân, người buôn bán, thợ thủ công… tụ tập làm ăn buôn bán sinh sống đông dần lên ở phía ngoài thành, ven sông Kẻ Sặt. Họ quần cư thành từng chòm xóm nhỏ phát triển thành giáp, một đơn vị hành chính cơ sở tương tự như thôn. Các giáp lớn rộng, liên kết lại thành một trung tâm dân cư đông đúc kéo dài từ giáp Đông Mỹ (nay là siêu thị) chạy dọc theo sông Kẻ Sặt đến giáp Tự Tân (nay là phố Tam Giang). Trung tâm dân cư đó có tên gọi là "Đông Kiều Phố". Chữ "phố" không chỉ đường phố, phố sá như ngày nay ta thường quan niệm. Từ điển Hán Việt chỉ rõ: "Phố" là nhà cửa, cửa hàng buôn bán. Đông Kiều là cầu ở phía đông "Đông Kiều Phố" là nhà cửa, cửa hàng buôn bán ở mé cầu phía đông của Thành Đông, tức là chỉ cả trung tâm dân cư tiền thân của TP Hải Dương ngày nay.
Căn cứ vào tấm bia ở đình Đông Kiều hiện nay, ta xác định được rằng "Đông Kiều Phố" đã tồn tại từ trước khi người Pháp đến Hải Dương năm 1883.
Sau quá trình hình thành "Đông Kiều Phố", các thợ thủ công cùng nghề nghiệp, cùng quê quán sống quần cư bên nhau, tạo điều kiện thuận lợi trong quan hệ làm ăn buôn bán. Từ đó hình thành các phố cổ gắn với tên phường hội, nghề nghiệp như phố Hàng Giày, Hàng Bạc, Hàng Đồng, Hàng Lọng.
Phố Hàng Giày trước kia san sát những cửa hiệu giày… và ngày nay cũng vậy. Ngày xưa thợ giày Hải Dương khéo tay. Các cửa hiệu da giày lớn của Hà Nội, Hải Phòng thường về đây cất hàng. Người cầu kỳ còn về đây đo chân đóng giày. Thợ giày Hải Dương hầu hết là người làng Trúc Lâm (tên nôm là làng Chắm) huyện Tứ Kỳ, nay là xã Hoàng Diệu (Gia Lộc). Trong báo cáo tình hình Hải Dương năm 1899, công sứ Groleau đã nêu nhận xét về nghề giày da như sau: "Sự kém cỏi phát sinh do kỹ thuật thuộc da. Nếu được khuyến khích áp dụng biện pháp tốt hơn thì họ có thể cạnh tranh với người Tàu và độc chiếm thị trường Đông Dương".
Khoảng thời gian hình thành "Đông Kiều Phố" có một số thợ thủ công làm nghề bạc, người làng Đồng Xâm (Thái Bình) tới đây chế tác đồ bạc như nhẫn bạc, vòng bạc, dây chuyền, xà tích, ống vôi… bằng bạc, dần dần hình thành phố Hàng Bạc. Đầu tiên là hiệu bạc Hợp Thành. Hiệu này lại truyền nghề cho 4 người con gái và con rể, mở thêm 4 cửa hiệu nữa là Đức Thành, Công Thành, Hiệp Thành, Phú Thanh. Người con nuôi là bà kỷ cũng kinh doanh vàng bạc tại nhà. Người thợ của những hàng vàng bạc trên, sau này mở hiệu vàng bạc, cũng lấy tên hiệu là Phương Thành. Có một điều đặc biệt, tỉnh Hải Dương cũng có một làng vàng bạc Châu Khê nổi tiếng, song người Châu Khê chỉ lên Hà Nội. Không có người Châu Khê nào tới Hải Dương kinh doanh vàng bạc. Trước hết tìm hiểu ý nghĩa của tên gọi phố Hàng Bạc. Nguyên thời xưa, ta chưa có tiền giấy mà tiêu tiền đồng, tiền kẽm (một quan là sáu mươi tiền) và bạc vụn, bạc nén. Khi cần có một chuyến đi xa, ví như sĩ tử vào Huế dự thi, mà mang tiền đồng, tiền kẽm thì khá cồng kềnh, nặng nề bất tiện. Ngược lại, khi tiêu một khoản tiền nhỏ mà trong tay chỉ có bạc nén thì cũng rất phiền toái cho nên phải tìm đến phố Hàng Bạc mà đổi tiền. Chính vì thế, người Pháp gọi phố Hàng Bạc (Hà Nội) là "phố của những người đổi tiền" (Rue des Changeurs). Chỉ có những đô thị cổ phong kiến như Hà Nội, Hải Dương mới có phố Hàng Bạc. Những đô thị hình thành thời tư bản chủ nghĩa, đã tiêu tiền giấy như Hải Phòng… ra đời năm 1888 không có nhu cầu đổi bạc nên không có phố Hàng Bạc.
Riêng việc tồn tại phố Hàng Bạc ở Hải Dương đã nói lên rằng Hải Dương là một đô thị cổ. Đây là một di sản văn hóa tinh thần quý báu.
Phố Hàng Lọng cũng vậy, trong các đô thị ở Bắc Việt Nam chỉ có Hà Nội và Hải Dương là có phố Hàng Lọng. Vì nơi đây có nhu cầu về lọng (số người đỗ đại khoa, vinh quy bái tổ nhiều và lễ hội dân gian phong phú, rước sách đình đám nhiều). Các thành phố khác như Hải Phòng, Hạ Long, Kiến An… không có phố Hàng Lọng như TP Hải Dương.
Nói đến phố Hàng Lọng ta hiểu rằng đây là miền đất văn hiến, miền đất học, nơi có số người đỗ đại khoa vào bậc nhất trong các tỉnh của toàn quốc, nơi có làng Mộ Trạch, một làng quê xa xôi hẻo lánh mà có tới 36 tiến sĩ, được phong là "Tiến sĩ sào", tức là "Lò tiến sĩ", "Tổ tiến sĩ". TP Hải Dương tiến lên đô thị loại I, cũng không thể thiếu vắng cái vốn quý đó… trong hành trang của mình. Được biết ở Thủ đô Hà Nội, tất cả các tên phố cổ "ba mươi sáu phố phường" vẫn được trân trọng bảo toàn nguyên vẹn. Thiết nghĩ, tỉnh Đông là mảnh đất văn hiến, miền đất học, miền đất "địa linh nhân kiệt", không nên để mất đi cái di sản văn hóa, tinh thần, lịch sử vô giá đó.
LƯU ĐỨC Ý