Tạo nền tảng vững chắc bảo vệ và phát huy giá trị
di sản văn hóa dân tộc
Tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa 15, Dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) gồm 9 chương 102 điều (tăng 2 chương 29 điều so với Luật Di sản văn hóa hiện hành), được Chính phủ trình Quốc hội lần đầu để xin ý kiến. Đây được xem là bước đệm quan trọng để Dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) hoàn thiện, kế thừa và phát triển Luật Di sản văn hóa hiện hành để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc Việt Nam.
Thời gian qua, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa luôn được Đảng ta quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi để giữ gìn được những bản sắc văn hóa của dân tộc, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, lan tỏa các giá trị văn hóa tới bạn bè quốc tế, góp phần nâng cao vị thế quốc gia…Sau hơn 20 năm Luật Di sản văn hóa được ban hành và hơn 10 năm được sửa đổi, bổ sung, sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa đã và đang được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm, ngày càng được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân ở khắp mọi miền đất nước. Nhờ đó, hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa ngày càng hiệu quả, với những thành tựu đáng ghi nhận.
Ông Nguyễn Văn Hùng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch, khẳng định, kể từ khi có Luật Di sản văn hóa (Quốc hội khóa 10 thông qua ngày 29-6-2001; sửa đổi, bổ sung một số điều tại Quốc hội khóa 12, ngày 18-6-2009), tạo cơ sở pháp lý thuận lợi để đẩy mạnh sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, bảo đảm giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhưng bên cạnh các thành tựu đã đạt được, trước những yêu cầu và đòi hỏi cấp bách từ thực tế đang diễn ra, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa cũng dần bộc lộ một số hạn chế, bất cập cả về nội dung và hình thức trong từng lĩnh vực. Cụ thể, tuy là Luật về lĩnh vực chuyên ngành nhưng nhiều điều khoản, quy định của luật hiện hành còn mang tính nguyên tắc chung chung hoặc chưa có các điều khoản giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành quy định và hướng dẫn cụ thể, chưa thuận lợi cho việc triển khai trong thực tiễn.
Trong đó điểm nghẽn là quy định chi tiết về những hành vi bị cấm; về trình tự, thủ tục hủy bỏ xếp hạng, ghi danh di sản, hủy bỏ công nhận bảo vật quốc gia; thủ tục điều chỉnh khoanh vùng bảo vệ di tích; quy trình tiếp nhận giao nộp, phân chia, quản lý hiện vật, di vật, cổ vật sau khi khai quật khảo cổ. Ngoài ra còn có quy trình thẩm quyền cấp Bằng chứng nhận Bảo vật quốc gia, chế độ đặc biệt đối với việc bảo vệ và bảo quản Bảo vật quốc gia; Quy định trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương (Bộ, ngành, UBND các cấp).
Thêm nữa, vấn đề quản lý các di sản, mô hình quản lý di tích của các địa phương hiện nay rất đa dạng, chưa thống nhất nên khó quản lý, khó xác định trách nhiệm khi có sai phạm trong hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa. Do di sản nước ta đa dạng về loại hình, chủ sở hữu, trong khi các tổ chức được giao quản lý, sử dụng di tích là đơn vị sự nghiệp công lập, không có chức năng quản lý nhà nước, nên bị hạn chế về nhiệm vụ thi hành pháp luật tại địa điểm bảo vệ di sản, chỉ có thể báo cáo và chuyển giao cho các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước để xử lý những trường hợp vi phạm trong lĩnh vực di sản văn hóa, dẫn tới sự chậm trễ, ảnh hưởng tới hoạt động bảo vệ di sản.
Cùng với hạn chế kể trên, Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch đánh giá, các quy định trong Luật Di sản văn hóa hiện hành không còn phù hợp với thực tiễn và cần sửa đổi, bổ sung. Điển hình trong lĩnh vực di tích, quy định về thăm dò khai quật khảo cổ và thẩm quyền hướng dẫn, thủ tục thăm dò, khai quật khảo cổ; quy định về khu vực bảo vệ của di tích; đối tượng kiểm kê di tích; quy định trách nhiệm quản lý, sử dụng, bảo vệ đối tượng kiểm kê di tích và bổ sung vào quy định bảo quản, tu bổ, phục hồi đối tượng này.
Trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể, quy định rõ 7 loại hình di sản văn hóa phi vật thể; quy định cấm đối với hành vi vi phạm các tập tục và can thiệp vào di sản văn hóa của cộng đồng; quy định cụ thể về nguyên tắc hoạt động, quản lý, thực hành và bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể trong cộng đồng, xã hội trong bối cảnh bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể gắn với phát triển bền vững và hội nhập.
Bên cạnh đó còn là quy định rõ về phân cấp ban hành và thực hiện Chương trình hành động quốc gia, Kế hoạch hành động, các báo cáo, đề án, dự án bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể đã được ghi danh vào các danh sách; quy định về vai trò, sự tham gia của của cộng đồng chủ thể trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể; quy định rõ hơn về chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân nắm giữ di sản, tránh tình trạng cụ thể hóa Luật, khi xây dựng chính sách chỉ tập trung cho một nhóm đối tượng nghệ nhân có danh hiệu, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nên việc triển khai trong thực tiễn không khả thi, khó áp dụng.
Ngoài ra, quy định về điều kiện đưa di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia ra nước ngoài có thời hạn để trưng bày, nghiên cứu, bảo quản (điều kiện bảo hiểm và thỏa thuận bằng văn bản từ phía tiếp nhận); quy định về điều kiện cấp giấy phép hoạt động bảo tàng ngoài công lập; quy định về thẩm quyền xác nhận điều kiện thành lập bảo tàng cấp tỉnh của Luật Di sản hiện hành tính khả thi chưa cao, hoặc không còn phù hợp với thực tiễn cần sửa đổi hoặc bãi bỏ.
“Việc sửa đổi Luật Di sản văn hóa nhằm kiến tạo hành lang pháp lý để gìn giữ, phát huy các giá trị của di sản trở thành tài sản, dựa trên cơ sở tài nguyên thiên nhiên phong phú để thấy được trí sáng tạo, nét đẹp văn hoá ngàn đời mà cha ông ta đã dày công gây dựng nên. Tới thời điểm này, Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch đã hoàn thành hồ sơ dự án Luật để trình Quốc hội khóa 15, kỳ họp thứ 7 để xin ý kiến”, ông Nguyễn Văn Hùng khẳng định.
Khôi Nguyên

