(HPĐT)- Trăng rằm tháng bảy tròn vạnh. Ở sân nhỏ trước nhà, từng đợt gió nhẹ lướt qua mát rượi. Cái thời chưa có điện, trông ánh sáng trăng mới lung linh làm sao, trọn vẹn làm sao. Ôi, một phần đời chất chứa thương nhớ của tuổi thơ tôi. Những đêm trăng đẹp, trong lành mát dịu như thế mà không mau mau ôm chiếc chiếu ra trải giữa sân nằm ngắm trăng thì quả… có lỗi với trời đất! Vậy nên, đêm xuống, trăng lên, tôi luôn là đứa đầu tiên hậm hụi chạy ra quét sân. Còn con Út? Nó đang loay hoay khệ nệ “tha” ra sân chiếc chiếu mẹ bỏ sẵn góc nhà…
Nhà tôi gần chùa. Ngôi chùa cổ nhỏ nhắn, khiêm cung đứng nép mình giữa xóm. Thường ngày chùa tĩnh lặng; nhưng đến rằm tháng bảy - lễ Vu lan - thì đông đúc nhộn nhịp. Đông đúc mà trang nghiêm. Con nít mê coi chuyện lạ rủ chạy lên cổng Tam quan đứng ngoài nhòm vào, ngắm nghía những hàng dây chăng chạy suốt từ ngoài vào trong Tổ đình phấp phới cờ xí, rực rỡ đèn hoa; ngắm sư thầy sư cô cùng các vị phật tử áo mũ chỉnh tề, tất bật vào ra. Lạ thay, ngày thường, trong khi chùa tĩnh lặng thì xóm nhỏ ồn ào; nhưng đến lễ Vu lan, trước cái nhộn nhịp (trang nghiêm) nơi cửa thiền, xóm nhỏ lại đột nhiên… tĩnh lặng! Và đêm xuống vào lễ, khi tiếng mõ chuông cùng âm thanh đọc tụng của chư tăng nổi lên thì xóm nhỏ im phắc lắng nghe. Bình thường những đêm trăng sáng, lũ nhỏ trong xóm hay tụ tập ngoài đường chơi trò cút bắt rượt đuổi, la ó vang rân; nhưng đêm rằm tháng bảy thì không, đứa nào ở yên nhà nấy…
Đêm rằm Vu lan, trong khi mẹ khăn áo lên chùa dự lễ thì chị Hai được phân công trông nhà và trông… lũ nhóc. Chị cũng thích theo mẹ đi chùa nhưng mẹ lo đêm hôm nhà cửa không có ai trông. Đành vậy. Ba chị em cùng nằm trên chiếc chiếu giữa sân, mắt tập trung vào một điểm duy nhất trên bầu trời là vầng trăng tròn vạnh lửng lơ. Bâng quơ đủ thứ một hồi sẽ tới tiết mục mấy đứa em kéo áo chị Hai đòi… kể chuyện! Những đêm trăng khác thường là mẹ kể nhưng đêm rằm Vu lan đương nhiên mẹ bận - thì đã có chị Hai. Chị Hai hay đọc sách, cổ tích biết nhiều nhưng đêm nay chị không kể chuyện cổ tích. Chị kể chuyện Bồ tát Mục Kiền Liên. Giọng kể chị trầm trầm khúc chiết; chắc có tạo dựng thêm nhiều tình tiết li kì khiến cho câu chuyện được “cổ tích hóa” khiến lũ nhỏ nghe thích thú mê tơi. Hấp dẫn tới mức tôi và con Út không thể nằm yên mà tự lúc nào đã ngồi bật dậy, nghển cổ chong tai nghe như nuốt lấy từng lời…
Không chỉ duy nhất một lần được nghe chuyện Mục Kiền Liên cứu mẹ bởi Vu lan năm nào chị Hai cũng kể. Bài học sâu xa về chữ hiếu, về lẽ nhân quả ấy tôi nghe tới mức thuộc lòng mà vẫn không chán, vẫn mang theo như hành trang quý giá đầu đời suốt những tháng năm rời tổ ấm bay xa. Chị Hai giờ quy y cửa Phật, xuất gia làm sư cô. Về thăm, mẹ bảo: căn duyên với Phật của chị con lớn lắm. Thôi, cũng đành… Tôi nghe vừa vui vừa buồn. Buồn vì giờ chị là người xuất gia, chị em không thể gặp thường xuyên nhưng vui vì biết chị chọn được con đường đi phù hợp với tâm - sở nguyện! Nhớ xưa chị từng bảo: chị muốn noi gương Mục Kiền Liên Bồ Tát! Lúc ấy tôi nghe cứ tưởng chuyện đùa…
*
Ký túc xá đại học đêm rằm tháng bảy. Bạn bè rủ nhau ra phố gần hết, riêng tôi không đi. Một mình ôm gối ôm chăn lên tầng thượng nằm ngắm trăng. Trăng Vu lan vằng vặc vạnh tròn. Nhìn trăng tôi nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ Út, nhớ chị Hai cùng những đêm trăng Vu lan ngày nhỏ. Nhớ nhất chi tiết bao giờ kể xong câu chuyện Vu lan, chị cũng kèm một câu “hăm” khiến chúng tôi xanh mặt: Đứa nào bất hiếu với cha mẹ thì sau cũng sẽ xuống… địa ngục. Liệu hồn!
Y Nguyên