- Ông cho biết ý nghĩa và tình hình triển khai hoạt động dược lâm sàng trên địa bàn thành phố?

Dược sĩ Khoa Dược phối hợp với bác sĩ khoa Bệnh nhiệt đới Bệnh viện Việt - Tiệp thăm khám, nắm bắt tình hình điều trị người bệnh.
- DLS là hoạt động nghiên cứu khoa học và thực hành dược về tư vấn sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả cao, nhằm tối ưu hóa việc sử dụng thuốc. Trên thế giới có nhiều nghiên cứu chứng minh DLS có khả năng thúc đẩy sử dụng thuốc hợp lý, phát huy tối đa hiệu quả của thuốc, giảm tối thiểu các tác dụng bất lợi trong điều trị và chi phí sử dụng thuốc, mang lại hiệu quả điều trị tốt, an toàn và tiết kiệm cho người bệnh.
Nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động DLS, ngày 20-12-2012, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 31 về việc hướng dẫn hoạt động DLS trong bệnh viện. Tiếp đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 68 phê duyệt Chiến lược Quốc gia phát triển ngành Dược Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Năm 2016, Quốc hội ban hành Luật Dược, trong đó có chương 9 - DLS gồm 4 điều quy định về nội dung hoạt động DLS. Tháng 10-2018, Sở Y tế Hải Phòng ban hành Kế hoạch số 102 về việc triển khai hoạt động DLS tại các cơ sở khám, chữa bệnh và nhà thuốc trên địa bàn thành phố giai đoạn 2018-2020. Ngày 25-9 mới đây, Sở Y tế ban hành Quyết định số 1050 về việc phê duyệt Đề án triển khai hoạt động DLS trên địa bàn thành phố giai đoạn 2020-2025. Như vậy có thể thấy, công tác DLS được quy định ở các văn bản quy phạm pháp luật. Tuy nhiên, do đây là lĩnh vực mới, khó nên hầu hết bệnh viện ở Hải Phòng chưa tổ chức được mô hình hoàn chỉnh, công tác triển khai thực hành DLS chậm, gặp nhiều khó khăn.
- Đâu là nguyên nhân khiến công tác triển khai thực hành dược lâm sàng chưa đạt kết quả tốt ở bệnh viện?
- Trong quá trình điều trị người bệnh, nhiều bác sĩ còn quan niệm coi người bệnh là “của mình”. Khi thêm sự tham gia của người làm công tác DLS, họ cảm giác có người “xen” vào, khiến hợp tác giữa bác sĩ và dược sĩ có nhiều rào cản. Việc giám sát đơn thuốc của bác sĩ kê cho người bệnh chưa thường xuyên, khiến nguy cơ kháng thuốc cao. Tại các bệnh viện, ngay một số cấp lãnh đạo cũng chưa nắm bắt hết các tiêu chí, nội dung và mục đích của công tác dược lâm sàng. Nhiều người quan niệm khoa dược bệnh viện chỉ là “cái kho” giữ thuốc và cấp, phát theo yêu cầu của bác sĩ. Vai trò của dược sĩ trong các bệnh viện chủ yếu là quản lý, cung ứng thuốc và một phần vật tư trang bị y tế. Có bác sĩ chỉ định dùng thuốc theo thị hiếu, phối hợp thuốc tràn lan, lạm dụng các thuốc đắt tiền làm gánh nặng chi phí chữa bệnh đè lên vai người bệnh…
Trên thực tế, một số nhiệm vụ của công tác DLS ở bệnh viện chưa có điều kiện triển khai, như: phân tích đánh giá tình hình sử dụng thuốc; xây dựng danh mục thuốc sử dụng tại bệnh viện, lựa chọn thuốc cho người bệnh, thông tin thuốc; tham gia xây dựng các quy trình chuyên môn liên quan đến sử dụng thuốc…Công tác hoạt động dược lâm sàng chưa thực sự đi sâu vào công tác điều trị tại các khoa lâm sàng, chưa hỗ trợ các bác sĩ trong việc dùng thuốc phù hợp từng người bệnh cụ thể, chưa gắn với lâm sàng một cách hữu cơ. Điều này cho thấy còn là do thiếu những hướng dẫn cụ thể, thiết thực, đúng mục tiêu dành cho các hoạt động thực hành DLS tại bệnh viện.
- Vậy theo ông, để triển khai tốt hoạt động dược lâm sàng, các cơ sở khám, chữa bệnh và nhàthuốc cần có giải pháp nào?
- Để thực hiện những quy định về hoạt động DLS tại các cơ sở khám, chữa bệnh và tại các nhà thuốc theo quy định của Luật Dược, cần tập trung cao nhiều giải pháp, trước hết là nâng cao nhận thức của lãnh đạo các cơ sở y tế đối với hoạt động này. Ban giám đốc các bệnh việncó trách nhiệm tuyển dụng và đào tạo người làm công tác DLS; chỉ đạo xây dựng quy chế làm việc và phân công nhiệm vụ cụ thể của người phụ trách công tác DLS; chỉ đạo các khoa lâm sàng, khoa cận lâm sàng, khoa chống nhiễm khuẩn và các khoa, phòng liên quan phối hợp khoa dược để thực hiện hoạt động DLS...
Với người phụ trách công tác DLS phải có chứng chỉ hành nghề, phải được đào tạo và cập nhật thường xuyên các hướng dẫn điều trị của Việt Nam và thế giới, tài liệu về y dược có liên quan đến sử dụng thuốc, tương tác thuốc, các phản ứng có hại của thuốc; các vấn đề khoa học, công nghệ phục vụ hoạt động thực hành DLS. Người làm công tác DLS phải được tiếp cận người bệnh, bệnh án và đơn thuốc để tư vấn người kê đơn trong việc sử dụng thuốc; trao đổi với người hành nghề khám, chữa bệnh để việc kê đơn và sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả cao; được ghi ý kiến chuyên môn về dược lâm sàng trong hồ sơ bệnh án, đơn thuốc. Mặt khác, dược sĩ lâm sàng được phản ánh ý kiến với Hội đồng thuốc và điều trị của cơ sở khám, chữa bệnh hoặc người đứng đầu cơ sở khám, chữa bệnh trong trường hợp có ý kiến khác nhau về việc kê đơn, sử dụng thuốc cho người bệnh; tham gia hội chẩn chuyên môn, bình bệnh án, đơn thuốc; tham gia xây dựng hướng dẫn các phác đồ điều trị liên quan đến việc sử dụng thuốc...
Hy vọng rằng với những quy định tại Luật Dược về tổ chức hoạt động DLS và những hướng dẫn cụ thể của Sở Y tế, các đơn vị khám, chữa bệnh trên địa bàn thành phố triển khai tốt công tác DLS trong thời gian tới.
- Trân trọng cảm ơn ông!
Đề án triển khai hoạt động DLS của ngành Y tế Hải Phòng quy định: đến năm 2020, 100% số bệnh viện tuyến thành phố có bộ phận DLS, 100% số bệnh viện, trung tâm y tế có giường bệnh tuyến quận, huyện và bệnh viện tư nhân có hoạt động DLS. Người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quyết định thành lập tổ DLS bệnh viện và phê duyệt nhân sự làm người phụ trách công tác DLS. Số lượng người làm công tác DLS chuyên trách của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải bảo đảm tỷ lệ tối thiểu từ 1 đến 2 dược sĩ làm công tác DLS/200 giường bệnh.
Việt Hoàng thực hiện - Ảnh: Trung Kiên