Trở lại Quảng Trị

07/09/2017 11:57

Quảng Trị, tháng 7 – Hà Nội, tháng 8-2017

Chiến sĩ bảo vệ Thành cổ Lê Xuân Chinh năm 1972. (ảnh tư liệu)

Đặc biệt năm nay, dịp 27-7 vừa qua, các khách sạn, nhà nghỉ đều kín phòng. Khách sạn Trường Sơn Đông ngự bên Đường 9, nơi tôi trú ngụ “cháy” phòng liên tục. Mấy năm trước người ta thường đi theo các đoàn do Tỉnh ủy, UBND, Hội Cựu chiến binh các tỉnh – thành, các tua du lịch, những đoàn phật tử, doanh nghiệp - doanh nhân, các tổ chức thanh thiếu - niên... Năm nay vẫn có những đoàn như thế, xuất hiện thêm những “đoàn” trong phạm vi vài gia đình, một gia đình hoặc cá nhân. Cho dù đi với hình thức nào, những ai đến với Quảng Trị đều trong tâm thế tri ân, viếng hương hồn các anh hùng, liệt sĩ.

Năm nay, UBND thị xã Quảng Trị chỉ đạo dựng hẳn rạp lớn, chiều ngang tới hơn 30 mét, chiều dài khoảng hơn trăm mét, kéo từ phía bắc Thành cổ ra đến bờ sông Thạch Hãn có khả năng chứa được hàng nghìn người. Thế mà hôm tổ chức lễ cầu siêu, thả hoa đăng, người đông chật kín rạp. Phải có hệ thống âm thanh “khủng” để lời cầu siêu của các đại sư thấm nhuần tới hết thảy mọi người. Doanh trại của Ban chỉ huy quân sự thị xã xây dựng khang trang, cổng hướng ra sông Thạch Hãn, nhưng anh chính trị viên phó nói với tôi rằng, các anh sắp phải chuyển đi chỗ khác, nhường nơi này cho công việc tri ân. Thị xã sẽ cải tạo nơi này thành khách sạn miễn phí để thân nhân liệt sĩ mỗi khi về Quảng Trị đến đây tá túc. Cũng trong năm nay, do có điều kiện hơn trước nên nhiều thân nhân liệt sĩ đến Quảng Trị. Có người tìm thấy mộ người thân trong các nghĩa trang. Nhưng không ít người đi nhiều nghĩa trang vẫn không tìm thấy. Con em họ là những nấm mộ không có tên. Thậm chí, các liệt sĩ còn nằm đâu đó nơi bìa rừng, núi cao, khe sâu hoặc dưới lòng sông Thạch Hãn, sông Hiếu, sông Ô Lâu, sông Vĩnh Định… Họ thắp hương lên bát hương chung nơi Thành cổ, nơi Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Đường 9 mà khấn, thế cũng tạm thỏa cõi lòng.

Trong 72 nghĩa trang liệt sĩ ở Quảng Trị, không ít nghĩa trang chiếm non nửa, thậm chí già nửa là mộ liệt sĩ vô danh. Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Đường 9 là ví dụ. Nhiều thân nhân liệt sĩ về Quảng Trị thăm viếng, tri ân, người có điều kiện ở khách sạn, người không có điều kiện thì thuê phòng trọ rẻ tiền. Thiếu may mắn hơn, không ít người vật vạ nơi bến xe, ga tàu, lều chợ. Cho nên, thị xã chủ trương dành nhà nghỉ miễn phí phục vụ thân nhân liệt sĩ là hoàn toàn đúng đắn và mang giá trị nhân văn cao cả.

Ngoài các công trình tri ân lớn do nhà nước đầu tư như Di tích quốc gia đặc biệt đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải, Di tích quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972, Di tích quốc gia đặc biệt Địa đạo Vĩnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh, Di tích quốc gia đặc biệt Đường Trường Sơn (trong đó có Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Trường Sơn), Cụm di tích Sân bay Tà Cơn – Đường 9 – Khe Sanh (trong đó có Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia Đường 9), Tượng đài Hoài niệm chiến trường xưa và đồng đội cùng nhiều nghĩa trang cấp huyện, cấp xã… Mấy năm gần đây, những cựu chiến binh quyên góp, vận động các nguồn tài trợ xã hội hóa xây dựng một số công trình tri ân ý nghĩa. Trong đó, công trình bia tưởng niệm gần 2500 anh hùng – liệt sĩ của Trung đoàn 27 (Trung đoàn mà Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu từng giữ cương vị Trung đoàn trưởng) tại xã Triệu Long, huyện Triệu Phong. Trong chiến dịch 81 ngày đêm Thành cổ, Trung đoàn 27 có nhiệm vụ đánh chặn địch từ cánh đông – nam, “chia lửa” với những người trấn giữ Thành cổ.

Cách bia này khoảng gần một cây số, cận kề với nghĩa trang liệt sĩ xã Triệu Long là bia tưởng niệm 81 liệt sĩ của đại đội 16 súng máy 27,5 ly. Trong địa bàn xã Gio Mỹ - Gio Linh, nơi phía bắc Cửa Việt có địa danh gọi là Cao điểm 31- Phúc Xa. Năm 1968, tại đây diễn ra những trận đối đầu lịch sử giữa ta và địch. Bộ đội ta hy sinh lên tới hàng trăm. Bây giờ, những cựu chiến binh xây trên đỉnh đồi cát này ngôi đền liệt sĩ. Còn ở xã Gio An, huyện Gio Linh, có cao điểm 82, nơi mà cuộc chiến gây cho cả phía ta và địch nhiều thương vong, những cựu chiến binh xây ngôi chùa… Trên đất Quảng Trị hôm nay có rất nhiều những công trình tri ân “nho nhỏ” nhưng ý nghĩa lớn đã và đang được những cựu chiến binh tự nguyện xây dựng như thế.

Nhưng cũng có những địa danh ban đầu không có tên, như con suối Không Tên nằm dưới chân đồi Không Tên ở huyện Cam Lộ, cách Đường 9 không xa. Mùa hè năm 1967, tại nơi này có tiểu đội mà tiểu đội trưởng tên là Bùi Ngọc Đủ chỉ huy chiến đấu với lực lượng địch đông gấp 20 lần, lập chiến công vang dội. Nhạc sĩ Huy Thục khi ấy đang ở chiến trường Quảng Trị, nghe tin, ông sáng tác bài hát nhằm ca ngợi chiến công của tiểu đội anh hùng. Cảm hứng ùa về, nhưng ông vừa cầm bút viết tên bài hát “Ơi con suối…” mới sực nhớ là con suối không có tên. Ông liền “chua” vào hai nốt nhạc “La”, thế là thành “Ơi con suối La La”. Vậy là nhờ tác phẩm văn nghệ mà con suối có tên. “Suối La La” trở nên nổi tiếng toàn quốc, lan ra cả nước ngoài.

Trong gần hai tuần ở Quảng Trị, tôi được tham dự một số sự kiện. Sự kiện khiến tôi cảm động nhất là cuộc gặp mặt những cựu chiến binh cả nước từng tham gia chiến đấu trong chiến dịch Thành cổ 81 ngày đêm. Họ đều mặc quân phục. Nhiều người đeo huân, huy chương, huy hiệu dũng sĩ. Tất cả đều ở tuổi ngoài sáu mươi trở lên. Cuộc gặp chỉ hơi ồn ào lúc đầu khi các cựu chiến binh đến hội trường tay bắt mặt mừng, ôm chặt nhau trong những vòng tay khi vừa gặp mặt. Vào cuộc họp, họ trật tự, lắng nghe từng bài hát, từng lời phát biểu trên diễn đàn. Lúc dự bữa cơm liên hoan, không thấy những tiếng cười to, chúc tụng ồn ào như nhiều tiệc tùng mà tôi từng chứng kiến. Họ từng đối mặt với cái chết, những cái chết dữ dội, khủng khiếp. Nên họ biết nâng niu từng phút giây cuộc sống thầm lặng, giản dị của mình. Gặp họ giữa đời thường, nhiều người còn không biết họ từng vào sinh ra tử nơi chiến trường khốc liệt.

Như trong cuộc hội ngộ này, tôi gặp cựu chiến binh Lê Xuân Chinh. Anh là nhân vật chính với dáng ngồi tựa súng vào vai, miệng nở nụ cười rất hồn nhiên trong bức ảnhnổi tiếng có tên “Nụ cười chiến thắng bên Thành cổ Quảng Trị” của phóng viên chiến trường Đoàn Công Tính.

Lê Xuân Chinh quê ở làng Phương La, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, Thái Bình. Chinh mồ côi cha từ thủa nhỏ. Năm 1972, thời điểm khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh chống Mỹ, cả dân tộc hướng về tiền tuyến, là con độc nhất tuy không thuộc diện phải vào chiến trường, nhưng với lòng yêu nước sục sôi, Chinh làm đơn tình nguyện nhập ngũ. Lê Xuân Chinh được biên chế vào Đại đội 18 thông tin liên lạc, Trung đoàn 48, Sư đoàn 320B. Tháng 6-1972, Lê Xuân Chinh cùng đồng đội vượt sông Thạch Hãn vào Thành cổ Quảng Trị. Nhiệm vụ chính của Chinh cùng với tiểu đội là hằng ngày dẫn lực lượng bộ đội chủ lực và đem công văn, mệnh lệnh từ chỉ huy xuống các đơn vị chiến đấu trong Thành cổ. Lê Xuân Chinh và đồng đội nhiều lần đối mặt với cái chết chỉ trong gang tấc. B52 rải thảm. Pháo tầm xa từ Hạm đội 7 Mỹ bắn như vãi trấu suốt ngày đêm. Quân đội đối phương trực tiếp đối mặt trên chiến trường có Thiết đoàn 7, 18 kỵ binh; Lữ đoàn dù 1, 2, 3; Ba Lữ đoàn thuỷ quân lục chiến… Chúng đua nhau dội lửa về phía quân ta. Đường dây hữu tuyến, sóng vô tuyến gần như tê liệt không hoạt động nên mệnh lệnh của Ban chỉ huy Trung đoàn chỉ được truyền đạt thông qua đơn vị thông tin liên lạc, trong đó có tiểu đội của Lê Xuân Chinh.

Chiến dịch Thành cổ kéo dài 81 ngày đêm thì Lê Xuân Chinh bám trụ đến 70 ngày. Chiều mồng 5-9-1972, khi chiến dịch sắp kết thúc, trên đường mang công văn từ Ban chỉ huy Trung đoàn xuống căn cứ Ái Tử, Lê Xuân Chinh dính pháo bầy, bị mảnh đạn găm vào sườn trái, máu tưới ướt sũng quần áo. Khi tỉnh dậy, Chinh mới biết mình được đồng đội chuyển ra Bệnh viện dã chiến 112, thuộc xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình…

- Thế còn bức ảnh “Nụ cười chiến thắng bên Thành cổ Quảng Trị” ra đời trong hoàn cảnh nào? – Tôi hỏi Chinh.

- Hôm đó nhận lệnh của Ban chỉ huy Trung đoàn, tôi và một số du kích dẫn phóng viên nhiếp ảnh Đoàn Công Tính, Báo Quân đội nhân dân vào Thành cổ. Khi đến chốt của quân ta ở phía đông gần giáp bờ sông Thạch Hãn, cách “Dinh Tỉnh trưởng” khoảng hơn 100m, thấy nhóm chiến sĩ ta đang đùa cợt gì đó rôm rả giữa lúc pháo địch chuyển làn, phóng viên Đoàn Công Tính bảo: “Các anh em cứ ngồi đó cười thật tươi tôi chụp bức ảnh”. Lúc ấy không ai nghĩ sẽ được nổi tiếng mà chỉ nghĩ cứ cười cho khí thế, biết đâu chụp ảnh xong lát nữa hy sinh hết. Riêng tôi, nói cho thật công bằng, lúc ấy thoáng trong đầu ý nghĩ: mình là con độc nhất, nếu bức ảnh được ông phóng viên này cho đăng báo, người ở quê sẽ biết, họ sẽ báo cho mẹ mình để bà yên tâm rằng con trai bà vẫn đang sống và chiến đấu ở Quảng Trị. Sau này đơn vị tôi rút ra Nông Cống - Thanh Hoá, lần đầu tôi nhìn thấy bức ảnh này trên Báo Quân đội nhân dân do thủ trưởng đơn vị cho xem. Rồi sau đó, cuộc sống mưu sinh vất vả, chẳng hiểu từ khi nào, tôi quên chuyện đó…

Năm 1974, vết thương tái phát, sức khỏe yếu, gia đình con một nên Lê Xuân Chinh được cấp trên giải quyết về phục viên. Chinh lấy vợ, sinh con như bao người lính nông dân khác. Cuối thời bao cấp, người làm nông nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Lên thăm bà cô ruột đi kinh tế mới ở Điện Biên, thấy đất đai nơi này còn rộng rãi hơn quê lúa Thái Bình, Chinh liền trở về làm thủ tục đưa vợ con lên định cư. Đây là thời kỳ gia đình Lê Xuân Chinh phải đối mặt với những khó khăn chồng chất. Giấy tờ chứng nhận thương tật bị mất sạch, không phụ cấp, gia đình Chinh ở vùng kinh tế mới với 1.000m² ruộng. Vợ chồng Chinh và 3 đứa con sàn sàn tuổi nhau phải chạy ăn từng bữa. Vết thương ở sườn trái gió trở trời lại chọc vào phổi khiến Chinh không thể cáng đáng công việc nặng nhọc. Ba con anh vì nhà nghèo quá nên phải bỏ học khi chưa hết cấp hai…

- Gần 30 năm sau bỗng có người ở Bảo tàng Quảng Trị gọi điện qua số máy của nhà hàng xóm xin gặp tôi để xác minh về người trong bức ảnh, khi ấy họ mới biết tôi… còn sống. Người ta thông tin cho tác giả bức ảnh. Nhà báo Đoàn Công Tính, đạo diễn Trần Minh Đại tìm đến căn nhà bẹp của tôi. Thế là tôi được mời lên sóng truyền hình trong chương trình “Người đương thời”. Nhờ chương trình ấy và sự vận động của nhà báo Đoàn Công Tính, đồng đội và những nhà hảo tâm quyên góp dựng cho gia đình tôi căn nhà tình nghĩa, tôi được cấp thẻ thương binh 4/4.

Gặp Lê Xuân Chinh tại cuộc hội ngộ chiến sĩ Thành cổ, thấy ông gầy gò, hai mắt trũng sâu, nhưng niềm vui lấp lánh trong ánh mắt. Tôi nghĩ, trên đất nước của chúng ta hẳn sẽ còn nhiều cựu binh là những công dân trong sáng như thế.

Bút ký của Lê Hoài Nam

(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Trở lại Quảng Trị