(HPĐT)- Đi chụp ảnh viết bài về Trường Sa và nhà giàn DK1 lần đầu năm 1996, tôi đặc biệt ấn tượng với những chiến sĩ Hải quân. Họ có thể là những người lính Trường Sa ngày đêm canh giữ biển trời của Tổ quốc, các chiến sĩ phục vụ trên tàu, hay những chiến sĩ văn công hải quân… tất cả đều không quản ngại khó khăn để góp phần bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Đón khách đến thăm Trường Sa. ẢNH: LƯU QUANG PHỔ
Nhớ về một thời gian khó
Tôi viết những dòng này khi đang ở khách sạn Navy của Quân chủng Hải quân ở thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Khách sạn đẹp, thường được dùng làm nơi tập kết các đoàn khách đi thăm và làm việc trên quần đảo Trường Sa. Lại nhớ, cách đây 27 năm trước, nơi chúng tôi ở để chờ xuống tàu là Trạm khách Vùng 4 Hải quân, một cơ sở đơn sơ với những căn nhà cấp 4 khá khiêm tốn nằm bên những cồn cát trắng Cam Ranh.
Ngày mai (2-1-2024), chúng tôi sẽ lên con tàu hiện đại của Hải quân Việt Nam là HQ-561 để đến với Trường Sa. Còn chuyến lần đầu năm 1996, tôi đi bằng con tàu chở nước HQ-936, nay đã được bàn giao cho Học viện Hải quân. Được đóng ở Liên xô từ năm 1952 để chở dầu, năm 1989 tàu được viện trợ cho Việt Nam và phiên chế về Vùng 4 Hải quân.
Đoàn chúng tôi gồm đại diện các cơ quan Trung ương, địa phương và báo chí, văn nghệ sĩ và cả diễn viên Đoàn văn công Hải quân ra đảo. Khách đông nên cán bộ, chiến sĩ của tàu phải sơ tán ra boong để nhường chỗ. Nắng, mưa, sóng, gió, có cả một cơn bão khi chúng tôi từ DK1 về lại Cam Ranh khiến con tàu chao lắc dữ dội, chân vịt có lúc quay trong không khí. Tất cả đều say, nhưng cứ đúng giờ là chúng tôi có cơm nóng canh ngọt.
Trừ Song Tử Tây và Nam Yết, các đảo trên quần đảo Trường Sa những ngày ấy hầu như chưa có cây. Rau cũng không trồng được mà chuột thì rất nhiều. Anh em lính đảo phải trồng rau vào những chậu đất kê cao, bên dưới bôi mỡ lau súng để chuột khỏi trèo, nhưng khi đến, chúng tôi thường được anh em mời rau xanh. Nước ngọt rất hiếm, nhưng với chúng tôi, anh em đều mang ra những ca nước hiếm hoi của họ. Và một chuyện không thể nào quên: Đúng giao thừa Tết năm ấy, điện thoại nhà tôi bỗng reo vang. Từ đầu dây có tiếng người vọng lại: “Tôi Tạc đây. Trần Đình Tạc Trường Sa đây. Nhân dịp năm mới, xin chúc anh và gia đình sức khỏe, hạnh phúc, bình an”. Tôi nghẹn lời, bởi không thể nghĩ rằng mình có thể nhận được điện thoại từ một nơi xa xôi như thế vào đúng giao thừa.
Vâng, chính là anh, Trần Đình Tạc, Đảo trưởng đảo Trường Sa. Số là trong chuyến đi Trường Sa năm ấy, tôi đã chụp nhiều ảnh cho lính đảo. Về đến Nha Trang, tôi in phóng và gửi ra đảo nhờ anh Tạc chuyển tặng anh em. Thay mặt lính đảo, giao thừa năm ấy anh đã gọi điện qua mạng VSAT (đầu số 099) về số điện thoại nhà tôi ghi trên bì thư. Đêm 30 Tết nhiều năm sau đó, tôi vẫn nhận được điện thoại chúc Tết của Trần Đình Tạc, cho đến khi anh từ trần vì bạo bệnh ở quê nhà Thái Bình.
Gặp chữ ký mình ở Trường Sa
Ở nhà khách Vùng 4 Hải quân năm ấy, người đầu tiên tôi gặp là nhà báo, nhà văn Nguyễn Như Phong. Ông Phong kể: “Lính Trường Sa tình cảm lắm. Anh em quý người. Năm ngoái, tớ đi Trường Sa với cặp đôi Trần Bình Minh, Nguyễn Thu Uyên của VTV. Họ là những người nổi tiếng trên truyền hình nên năm nay thế nào ra đảo cũng gặp… những vật nuôi yêu quý được đặt tên Thu Uyên, Bình Minh”.
Một bất ngờ khá thú vị, một số chú lính trẻ nói quê họ ở Hải Phòng. Quận nào, chúng em ở Ngô Quyền. Phường nào, chúng em ở Đằng Giang. Hi hi, thế thì sổ đoàn viên đâu, lấy ra đây cho anh xem. Tôi hỏi và rút bút ký ngay mấy chữ y như chữ ký của Bí thư Đoàn phường Đằng Giang trong sổ đoàn viên của họ. Các chàng lính trẻ ngớ ra, rồi một cậu tên Tuấn nhìn tôi, cười phá lên, ơ anh Phổ - Bí thư Đoàn phường chúng mày ơi. Đúng rồi anh đây chứ còn ai vào đây nữa. Trước khi chuyển sang làm báo và đi công tác Trường Sa, tôi là hội viên Hội Nhà văn, thuộc Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hải Phòng, đồng thời là Bí thư Đoàn phường Đằng Giang và từng sinh hoạt Đoàn cùng các chàng trai này trước khi họ nhập ngũ. Anh em nắm tay nhau mừng mừng tủi tủi, cùng ôn lại những giải bóng đá của quận ở sân Máy Tơ, những hoạt động tuyên truyền tổ chức ở cây đa 13 gốc.
Điều đặc biệt, trong chuyến đi này là tôi gặp ca sĩ Hoàng Nguyên của Đoàn Văn công Hải quân. Tôi hơi biết Hoàng Nguyên vì nhà anh cũng ở Đằng Giang, trên đường An Đà và những năm 80 thế kỷ trước nuôi rất nhiều chim yến, khiến tôi mê tít, thường đứng ngoài đường mà ngắm. Hoàng Nguyên năm ấy là một trong những diễn viên chính của văn công Hải quân đi phục vụ Trường Sa, cùng đi với anh có Thu Lan, một trong những ca sĩ đàn chị của đơn vị. Và những câu chuyện về những chuyến lưu diễn ở Trường Sa mà anh chị kể trên boong tàu HQ-936 cũng như khi gặp lại ở Hải Phòng có thể đi vào lịch sử âm nhạc Việt Nam.
Người “mang mưa đến Trường Sa”
Nhập ngũ năm 1981, thượng tá NSƯT Hoàng Nguyên, nguyên Phó trưởng Đoàn Văn công Hải quân có thể là một trong những người đến Trường Sa nhiều nhất, với 30 lần đi biểu diễn tại đây. Trong đó, nhiều chuyến đi vô cùng gian khổ.
Đợt biểu diễn Trường Sa đầu tiên của Hoàng Nguyên vào tháng 4-1982, khi anh vừa trở thành văn công Hải quân với quân hàm binh nhất. Đội văn công 7 người phải theo tàu vận tải đi một tuần từ Hải Phòng vào Cam Ranh (tỉnh Phú Khánh cũ) bốc hàng, rồi mới đi tiếp Trường Sa.
“Gọi là văn công đi diễn, nhưng toàn hát mồm, không loa máy, nhạc đệm thì chỉ có chiếc guitar gỗ và một kèn clarinet. Lên các đảo, cứ bộ đội ở đâu thì văn công đến hát ở đó, đêm thì diễn ở các vọng gác, ụ pháo. Lính đảo muốn thấy mặt diễn viên thì bật đèn soi vài giây rồi tắt để tiết kiệm pin”.
Năm sau, văn công Hải quân có loa tay, bộ đội đảo thì nghĩ ra cách dùng vỏ hộp thịt cho miếng giẻ vào rồi đổ dầu làm đèn để nhìn thấy diễn viên. “Hát nhiều quá pin yếu, loa rè, thế là lại hát bo. Đèn dầu thì quá nhiều khói, mặt mũi văn công, bộ đội đều nhem nhuốc vì muội bám. Rút kinh nghiệm, những năm 1985-1986, văn công mang theo đèn măng sông và người bơm hơi cho đèn chính là Hoàng Nguyên, nhưng đến cuối buổi, đèn xuống hơi lại tối mò.
Chuyến đi lịch sử nhất của Hoàng Nguyên là vào tháng 4-1988, sau sự kiện Trung Quốc đánh chiếm đảo Gạc Ma chỉ vài tuần. Tàu khởi hành ngày 19-4, đến 9-6 mới về. Anh kể: “Chúng tôi đi hết 21 điểm đảo, 33 điểm đóng quân. Đoàn công tác được phát súng AK, 5 chiến sĩ văn công cũng mỗi người một khẩu, tất cả phải tập bắn khi hành trình trên biển. Tuy nhiên, đây cũng là lần đầu văn công được hát với 2 chiếc ampli liền loa hiệu Yamaha”.
Chiến sự vừa xảy ra, tình hình rất căng thẳng nên anh em rất mừng khi thấy văn công. Hồi đó ca khúc về biển đảo không nhiều, chúng tôi hay hát những bài như “Mưa Trường Sa”, “Nếu em tới thăm đảo”, “Lời Tổ quốc”, “Trái tim người chiến sĩ”. Bộ đội “khát” văn công lắm, hôm đoàn đến bãi Thuyền Chài, nơi có 3 điểm đóng quân trên nhà cao chân, cách nhau cả cây số, bọn mình dừng ở từng điểm, dùng xuồng cao su đón anh em ra tàu xem văn công. Diễn đến điểm cuối thì đã 9 giờ tối, bỗng có tiếng người gọi dưới mép nước, hóa ra anh em từ hai điểm kia vừa bơi, vừa lội đến để được xem thêm. Thế là văn công lại diễn lại từ đầu”.
“Một năm, khi đến đảo An Bang, anh em hỏi sao không có trống, bọn mình bảo không mang được vì cồng kềnh, lính bảo yên tâm đi năm sau đoàn ra sẽ có. Năm sau ra đã thấy một bộ trống 5 thật. Họ làm bằng tôn, bạt để chúng tôi biểu diễn. Bộ trống ấy bây giờ còn trưng bày trong Bảo tàng Hải quân”, Hoàng Nguyên nói. Anh kể mình còn được lính đảo gọi là “người mang nước đến Trường Sa” vì “từ năm 1988, mình hay hát bài “Mưa Trường Sa” của Xuân An, nhiều lần hát xongthì trời mưa.
“Nhớ nhất là năm 2000, ở đảo Sinh Tồn Đông, vừa hát hết bài ấy thì trời đổ mưa to, nước ngập cả chiến hào khiến anh em phải tát ra. Hôm sau họ đùa, bảo lần sau ra đảo anh đừng hát bài này, nhỡ mưa chúng em lại phải tát hào. Đến chuyến cuối trước khi nghỉ hưu năm 2017, cũng là chuyến thứ 30, thì hát xong “Mưa Trường Sa” ở đảo Đá Lớn, trời cũng mưa!”.
Để kiểm chứng lời Hoàng Nguyên, tôi đã đến Bảo tàng Hải quân và thấy đúng là có một bộ trống với lời giới thiệu tương tự.
“Mơ ước được ra Trường Sa một lần nữa”
Như đã nói ở trên, trong lần đi Trường Sa đầu tiên năm 1996, tôi rất ấn tượng với Thu Lan. Đến thời điểm ấy, nữ ca sĩ xinh đẹp chuyên hát dân ca đã có hơn 10 lần đến Trường Sa và được mệnh danh là một trong những phụ nữ Việt Nam đến Trường Sa nhiều nhất.
Ngay sau chuyến đi ấy, Thu Lan được Trung ương Đoàn tặng Huy chương “Vì thế hệ trẻ” và được tham gia hành trình của Tàu Đông Nam Á, một hoạt động của tuổi trẻ các nước ASEAN. Nay chị đã về hưu với quân hàm trung tá, nhưng với 15 lần đi diễn ở Trường Sa, có thể chị vẫn là một trong những nữ nghệ sĩ biểu diễn ở Trường Sa nhiều nhất.
Thu Lan được tuyển vào Đoàn Văn công Hải quân năm 1983 và đi diễn ở Trường Sa ngay năm đó. Chị kể: “Kỷ niệm đi diễn thì nhiều lắm, nhưng nhớ nhất là năm 1986, Trường Sa không hiểu sao rất nhiều muỗi. Văn công lên đảo phải mặc kín mà vẫn bị muỗi đốt, đến đảo Sinh Tồn thì mình bị sốt xuất huyết, nằm li bì. Đảo có anh Bình, người ở Thủy Nguyên, Hải Phòng có nuôi được một gà mẹ đang đẻ trứng, định ấp thành gà con, nhưng thấy tôi bị ốm, anh bèn lấy ổ trứng nấu cháo cho ăn. Nhờ có cháo trứng, mình hồi phục rất nhanh”.
Chia tay chúng tôi, Thu Lan bảo: “Chúng tôi đã đi hát ở Trường Sa trong những năm tháng còn rất khó khăn, nhưng chính vì thế mà tình cảm với Trường Sa là vô cùng sâu đậm, như một phần máu thịt của đời mình. Mơ ước của tôi là được ra Trường Sa một lần nữa”.
Viết tại Vùng 4 Hải quân, ngày 1-1-2024
BÚT KÝ CỦA LƯU QUANG PHỔ