Truyền thông, giáo dục sức khỏe sinh sản trẻ vị thành niên: “Vẽ đúng đường cho hươu chạy”

Thanh Hà (thực hiện) 03/11/2020 16:04

(HPĐT)- Việc thiếu kiến thức về sức khỏe sinh sản là nguyên nhân dẫn đến những hậu quả đáng tiếc đối với trẻ vị thành niên. Để thanh, thiếu niên hiểu đúng và đủ về “chuyện ấy”, công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe sinh sản cần được xác định là ưu tiên hàng đầu. Bác sĩ TRỊNH THỊ THANH VIỄN, Trưởng khoa Vị thành niên-Thanh niên, Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản Hải Phòng trò chuyện cùng phóng viên Báo Hải Phòng chung quanh nội dung này.

Giáo dục sức khỏe sinh sản cho trẻ vị thành niên cần được các trường quan tâm hơn. (ảnh minh họa)

- Bác sĩ đánh giá như thế nào về hiểu biết của trẻ vị thành niên hiện nay về sức khỏe sinh sản?

- Hơn 20 năm công tác trong lĩnh vực này, tôi nhận thấy giới trẻ ngày nay có cái nhìn “thoáng” hơn nhiều so với trước. Trong các buổi truyền thông tại trường học, các em đặt nhiều câu hỏi, thắc mắc bạo dạn hơn, “người lớn” hơn hẳn thay vì chỉ im lặng ngồi nghe. Tuy nhiên, điều đáng buồn là thanh, thiếu niên ngày nay có kiến thức nhưng chưa đúng, chưa đủ. Các em quan tâm nhiều đến sức khỏe tình dục với những vấn đề về “khoái cảm”, “chất bôi trơn”, “xuất tinh sớm”, “thủ dâm”... trong khi không mấy hứng thú tìm hiểu các biện pháp tránh thai an toàn, hậu quả của nạo phá thai...

- Bác sĩ có thể kể một vài câu chuyện chứng minh nhận định trên?

- Ví dụ đơn giản về cách sử dụng bao cao su đúng cách hay thời điểm sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục, các em hầu như không biết và hay hỏi tôi trong các buổi truyền thông tại trường học. Những câu hỏi đại loại như “Em chỉ đeo “bao” khi sắp xuất tinh thì bạn gái có thai không?”. Trong cuộc nghiên cứu của UNFPA (Quỹ Dân số Liên hiệp quốc) năm 2017 cho thấy 83% số thanh, thiếu niên tham gia nghiên cứu từng nghe về bao cao su nam và 63,4% hiểu đúng mục đích của việc dùng bao cao su. Nhưng chỉ có 26% trong số đó biết sử dụng bao cao su đúng cách.

Hay trường hợp một nữ sinh lớp 12 từng thú nhận với tôi đã từng quan hệ tình dục với bạn học nhưng không dùng biện pháp tránh thai, lo sợ có thai nên tự ý mua thuốc tránh thai khẩn cấp và sử dụng theo hướng dẫn đọc trên mạng internet. Hậu quả, em phải cấp cứu do tác dụng phụ của thuốc. Rõ ràng, các em có ý thức tìm hiểu về sức khỏe tình dục và sinh sản nhưng lại tiếp cận từ nguồn thông tin không chính thống như mạng internet, phim ảnh khiêu dâm hoặc bạn bè khiến kiến thức bị lệch lạc, dẫn đến nhiều sự cố đáng tiếc, ảnh hưởng lớn đến tâm lý và khả năng sinh sản sau này.

- Tâm lý có phải là rào cản lớn nhất, thưa bác sĩ?

- Đúng vậy. Rào cản tâm lý xuất phát từ cả phía các em và cha mẹ, thầy, cô giáo. Các em ngại hoặc không muốn chia sẻ với cha mẹ, thầy cô giáo mà tự tìm hiểu trên mạng internet hoặc từ nhân viên y tế. Trong khi cha mẹ thường cho là vấn đề nhạy cảm, khó nói hoặc trốn tránh, cấm cản trẻ tìm hiểu bởi sợ “vẽ đường cho hươu chạy”. Cũng có một số cha mẹ cởi mở hơn nhưng họ thiếu kỹ năng trò chuyện, tâm sự, giải thích và hướng dẫn con em. Còn nhà trường vẫn chú trọng dạy văn hóa hơn giáo dục sức khỏe sinh sản với học sinh. Thời lượng học ít, bị cắt xén, nội dung nhàm chán, không gây hứng thú với các em. Một số trường tổ chức truyền thông sức khỏe sinh sản mang tính hình thức, tổ chức cho có để đủ chỉ tiêu, lấy thành tích mà không quan tâm đến hiệu quả.

- Như bác sĩ đề cập, trẻ vị thành niên muốn tự tìm hiểu hoặc chia sẻ với nhân viên y tế hơn là với cha mẹ, thầy, cô giáo. Đây chính là lý do cần phát huy vai trò của truyền thông. Tuy nhiên, công tác truyền thông nội dung này dường như gặp không ít khó khăn?

- Rất nhiều khó khăn. Trước tiên là thiếu kinh phí cho công tác truyền thông. Rồi thiếu nhân lực, đội ngũ tuyên truyền viên mỏng, năng lực hạn chế nhưng chưa được tập huấn, đào tạo bài bản, chuyên sâu, kịp thời. Chưa kể khó khăn trong tổ chức triển khai công tác truyền thông. Không phải trường nào cũng mặn mà với hoạt động này. Nhiều khi chúng tôi phải vận động, thuyết phục và tổ chức miễn phí các buổi truyền thông, tranh thủ vào giờ chào cờ đầu tuần vỏn vẹn 45 phút để tuyên truyền đến các em. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất là phải thường xuyên đổi mới hình thức, nội dung tuyên truyền để phù hợp với tâm lý thanh, thiếu niên hiện nay. Đây là điều tôi luôn trăn trở.

- Điều này có nghĩa là, muốn nâng cao hiệu quả truyền thông sức khỏe sinh sản đến thanh, thiếu niên cần tháo gỡ những vướng mắc trên?

- Đúng vậy. Cần có giải pháp tổng thể, đồng bộ từ phía gia đình, nhà trường và xã hội. Tôi mong muốn ngành giáo dục, các trường và giáo viên cần nhìn nhận giáo dục sức khỏe sinh sản cũng quan trọng như các môn văn hóa, chứ không chỉ là hoạt động ngoại khóa, tiết học phụ. Cần tạo điều kiện về thời gian, tập huấn giáo viên, đổi mới hình thức, nội dung tuyên truyền để học sinh được tiếp cận thường xuyên, lâu dài và có hứng thú với kiến thức và kỹ năng chăm sóc sức khỏe sinh sản. Tại đây, các em được chia sẻ, giãi bày những tâm sự thầm kín và thầy, cô giáo là người lắng nghe và hướng dẫn.

Đối với công tác truyền thông, đội ngũ tuyên truyền viên chúng tôi đang thay đổi từ truyền thông một chiều sang đa chiều, đặc biệt chú trọng đến tiếng nói của trẻ, lắng nghe và giải đáp thông qua các buổi truyền thông, nói chuyện, đường dây tư vấn. Trẻ được giáo dục tình dục toàn diện về giải phẫu và sinh lý tình dục; sinh sản, tránh thai, mang thai và sinh con; các bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS; cuộc sống gia đình; văn hóa và tình dục; bình đẳng giới; lạm dụng tình dục, bạo lực giới, tình yêu và tình bạn, bạo lực học đường... thông qua giải quyết các tình huống thực tế, thay vì kiến thức sách vở như trước.

- Các bậc cha mẹ cần làm gì để giáo dục, định hướng con em về sức khỏe sinh sản?

- Muốn giáo dục, định hướng con em đúng đắn, trước hết cha mẹ cần cởi trói định kiến coi “chuyện ấy” là nhạy cảm, khó nói. Cấm cản con yêu đương ở tuổi học trò là điều khó có thể trong xã hội hiện đại ngày nay. Thay vì lo sợ “vẽ đường cho hươu chạy”, cha mẹ nên “vẽ đúng đường cho hươu chạy”. Hẳn nhiều người sẽ cười khi tôi nói “cha mẹ cũng cần học cách làm cha mẹ”, nhưng đó là sự thật. Thực tế nhiều cha mẹ bất lực trong nuôi dạy con cái, không thể tiếp cận con, chưa nói đến việc hiểu và chia sẻ cùng con. Do đó, cha mẹ cũng cần được trang bị kỹ năng để có thể làm bạn cùng con. Đến đây, tôi chợt nảy ra ý tưởng nên lồng ghép nội dung này trong các buổi họp phụ huynh, nơi cha mẹ được các chuyên gia tâm lý tư vấn, hướng dẫn, giải quyết tình huống thực tế.

- Trân trọng cảm ơn bác sĩ!


Thanh Hà (thực hiện)
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Truyền thông, giáo dục sức khỏe sinh sản trẻ vị thành niên: “Vẽ đúng đường cho hươu chạy”