Từ 'đi lễ' đến 'đi trong di sản' là bước chuyển trong cách tiếp cận, trải nghiệm và lan tỏa những giá trị văn hóa Côn Sơn - Kiếp Bạc.

Việc UNESCO ghi danh Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc không chỉ bổ sung thêm một danh hiệu quốc tế cho Việt Nam, mà quan trọng hơn, giúp nhận diện đầy đủ hơn không gian văn hóa được hình thành, bồi đắp và trao truyền qua nhiều thế kỷ. Trong tổng thể ấy, các di tích không tồn tại như những điểm đến biệt lập mà được kết nối bởi những giá trị chung về lịch sử, Phật giáo Trúc Lâm, tín ngưỡng, cảnh quan và đời sống cộng đồng.
Côn Sơn - Kiếp Bạc vì thế cần được nhìn trong một không gian rộng hơn chính địa giới của khu di tích. Trên địa bàn Hải Phòng có 5 thành phần thuộc Quần thể Di sản thế giới gồm Côn Sơn, Kiếp Bạc, Thanh Mai, Kính Chủ và Nhẫm Dương. Mỗi địa danh mang những giá trị riêng nhưng cùng góp phần tạo nên dòng chảy văn hóa liên tục, trong đó, dấu ấn Phật giáo Trúc Lâm, lịch sử nhà Trần, các danh nhân và đời sống tín ngưỡng của cộng đồng đan xen, bổ trợ cho nhau.
Côn Sơn - Kiếp Bạc có nền tảng thuận lợi chính là di sản vẫn đang được cộng đồng thực hành. Những lễ hội, nghi lễ, hoạt động tưởng niệm và tín ngưỡng được duy trì qua nhiều thế hệ đã tạo nên sự kết nối giữa di sản vật thể, di sản phi vật thể và đời sống cộng đồng. Chính từ nền tảng ấy, lễ hội trở thành một trong những phương thức quan trọng để di sản tiếp tục hiện diện, không chỉ trong ký ức của cộng đồng mà cả trong nhận thức của những người lần đầu tìm đến Côn Sơn - Kiếp Bạc.
Nếu những công trình, cảnh quan và hiện vật giúp con người nhìn thấy dấu tích của quá khứ thì nghi lễ giúp quá khứ tiếp tục được thực hành trong hiện tại. Đó là lý do những hoạt động dâng hương, rước, tế, tưởng niệm tại Côn Sơn - Kiếp Bạc không chỉ mang ý nghĩa của chương trình lễ hội, mà còn là phương thức cộng đồng trao truyền ký ức, đạo lý và những giá trị cần được gìn giữ.
Điều làm nên giá trị của những nghi lễ ấy chính là tính liên tục. Qua hơn bảy thế kỷ, những ký ức về các bậc tiền nhân vẫn được cộng đồng nhắc nhớ, thực hành và trao truyền. Vì thế, lễ hội không phải sân khấu dựng lại quá khứ mà là một phần của đời sống hiện tại. Người dân đến với lễ hội không chỉ với tư cách khán giả, còn du khách không chỉ là người đứng ngoài quan sát, mà trong những thời điểm nhất định cùng bước vào không gian văn hóa đã được cộng đồng duy trì qua nhiều thế hệ.
Lễ hội Côn Sơn, Kiếp Bạc - Mùa Thu năm 2026 vì vậy tiếp tục duy trì các nghi lễ truyền thống như Cáo yết, tưởng niệm, Khai ấn, Cầu an, Hội hoa đăng, rước, tế và giỗ Đức Thánh Trần, đồng thời mở rộng các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, múa rối nước, làng nghề, ẩm thực, sản phẩm OCOP, nông sản, quảng bá du lịch và xúc tiến thương mại. Cách kết hợp giữa “lễ” và “hội” hướng tới việc tạo ra không gian trong đó người dân và du khách vừa có thể thực hành, chiêm bái, vừa tìm hiểu và khám phá những giá trị văn hóa phía sau di tích.
Phó Chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Minh Hùng, Trưởng Ban Tổ chức Lễ hội Côn Sơn, Kiếp Bạc - Mùa Thu năm 2026 đặt yêu cầu lễ hội phải được tổ chức trang trọng, tôn nghiêm, đúng truyền thống, an toàn, tiết kiệm, minh bạch và hiệu quả, đồng thời tăng cường quảng bá những giá trị của di sản. Định hướng này cho thấy mục tiêu của lễ hội không đơn thuần là thu hút đông người tham dự mà quan trọng hơn là tạo nên không gian văn hóa tương xứng với giá trị của di sản thế giới và giúp những giá trị ấy được lan tỏa bền vững.

Sau khi được UNESCO ghi danh, một trong những vấn đề đặt ra với Côn Sơn - Kiếp Bạc là làm thế nào để biến lợi thế của danh hiệu thành nguồn lực thực sự cho phát triển văn hóa và du lịch, nhưng đồng thời không để hoạt động khai thác du lịch làm lu mờ những giá trị cốt lõi của di sản.
Đối với Hải Phòng, 5 thành phần Côn Sơn, Kiếp Bạc, Thanh Mai, Kính Chủ và Nhẫm Dương tạo điều kiện thuận lợi để hình thành những tuyến trải nghiệm liên kết. Từ câu chuyện Phật giáo Trúc Lâm ở Côn Sơn, du khách có thể tiếp tục tìm hiểu những dấu tích liên quan tại Thanh Mai, Nhẫm Dương; từ lịch sử nhà Trần và Hưng Đạo Đại Vương ở Kiếp Bạc có thể mở rộng hành trình theo không gian văn hóa, lịch sử của quần thể.
Cách làm này được thể hiện từ mùa lễ hội năm 2025, khi các chương trình như “Một hành trình - 5 điểm đến Di sản thế giới”, “Theo dấu chân Tam tổ Trúc Lâm”, “Khám phá Di sản Côn Sơn - Kiếp Bạc” được giới thiệu, từng bước chuyển cách tiếp cận từ tham quan từng địa điểm sang khám phá một chỉnh thể di sản.
Đây là sự thay đổi có ý nghĩa, bởi một quần thể di sản thế giới không chỉ có giá trị ở từng điểm thành phần. Khi được kết nối bằng những câu chuyện và hành trình phù hợp, mỗi địa danh sẽ trở thành một “chương” trong một câu chuyện lớn, giúp du khách có thêm lý do để lưu lại lâu hơn, đi xa hơn và quan trọng nhất là hiểu sâu hơn về giá trị văn hóa của vùng đất.
Tại mùa lễ hội 2026, mã QR tích hợp trên nền tảng Smart Hải Phòng cung cấp thông tin về chương trình, sơ đồ không gian, các khu vực dịch vụ, điểm tham quan, ăn uống, lưu trú và các tuyến, điểm du lịch liên quan, giúp người dân và du khách chủ động hơn trong việc tìm kiếm thông tin và lựa chọn hành trình.
Cùng với số hóa là sự thay đổi trong cách kể chuyện. Hình ảnh, video, livestream và sự tham gia của các nhà sáng tạo nội dung mở ra những phương thức mới để đưa Côn Sơn - Kiếp Bạc đến với những người chưa từng đặt chân tới đây, đồng thời cung cấp thêm lớp thông tin cho những người đã từng đến. Cùng với đó, việc công bố Bộ nhận diện thương hiệu Di sản thế giới Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc trong khuôn khổ Lễ hội mùa Thu 2026 cho thấy một bước chuyển khác: Từ tâm thế đón nhận danh hiệu sang chủ động xây dựng câu chuyện và hình ảnh của di sản.
Sau dấu mốc UNESCO tháng 7/2025, Côn Sơn - Kiếp Bạc đang có cơ hội bước ra khỏi cách tiếp cận của điểm đến đơn lẻ để trở thành không gian trải nghiệm văn hóa nằm trong tổng thể di sản liên vùng. Trong hành trình ấy, lễ hội vẫn là điểm tựa quan trọng bởi đây là lúc di sản được thực hành rõ nhất, nhưng từ lễ hội có thể mở ra những hành trình rộng hơn, kết nối các di tích, cảnh quan, câu chuyện lịch sử, tín ngưỡng, làng nghề và đời sống cộng đồng.
Từ “đi lễ” đến “đi trong di sản” vì thế không chỉ là sự thay đổi về cách tổ chức một chuyến du lịch. Đó là sự thay đổi trong cách tiếp cận quá khứ, khi du khách không chỉ đứng trước một di tích để quan sát mà được dẫn dắt vào câu chuyện phía sau di tích; khi người dân không chỉ là người thụ hưởng hoạt động du lịch mà trở thành chủ thể gìn giữ và kể câu chuyện về quê hương và khi những nghi lễ vốn được cộng đồng thực hành qua nhiều thế hệ tiếp tục trở thành điểm nối giữa ký ức của tiền nhân với nhu cầu tìm hiểu, khám phá của thế hệ hôm nay.
Và cũng từ đó, một lễ hội không chỉ khép lại sau những ngày hội, mà có thể mở ra hành trình dài hơn - hành trình để con người hôm nay đi sâu hơn vào lịch sử, văn hóa và cảnh quan của vùng đất, để những giá trị được trao truyền qua nhiều thế kỷ tiếp tục tìm thấy ý nghĩa trong hiện tại và trở thành nền tảng cho tương lai.
TÂM PHÚC