Kết nối dữ liệu logistics, sản xuất, đầu tư, ứng dụng dữ liệu thông minh và phát triển công nghiệp hỗ trợ giúp Hải Phòng tháo gỡ điểm nghẽn chuỗi cung ứng, nâng năng lực doanh nghiệp nội địa, tạo động lực tăng trưởng.

Trong 9 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn thành phố tăng 15,14%, riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,36%. Sản lượng hàng hóa qua cảng ước đạt 156,3 triệu tấn, tăng 11,8% so với cùng kỳ; kim ngạch xuất khẩu đạt 43,72 tỷ USD, tăng 12,3%. Quy mô kinh tế ngày càng lớn đặt ra yêu cầu kết nối hiệu quả hơn giữa sản xuất, cảng biển, vận tải và xuất nhập khẩu.
Tiến sĩ Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cho rằng, thành phố cần ưu tiên các vấn đề có sức lan tỏa lớn, nhất là dữ liệu cảng, logistics và chuỗi cung ứng công nghiệp hỗ trợ, tránh phát triển các hệ thống dữ liệu rời rạc, thiếu khả năng kết nối.

Trên thực tế, một "điểm nghẽn" lớn của ngành cảng biển là dữ liệu logistics còn phân tán giữa cảng biển, hãng tàu, doanh nghiệp vận tải và cơ quan quản lý. Với sản lượng hàng hóa qua cảng khoảng 122 triệu tấn, chi phí logistics chiếm 16-17% GDP thành phố, việc thiếu dữ liệu chuẩn hóa, kết nối gây khó khăn cho dự báo luồng hàng, điều phối phương tiện và phân bổ bãi container. Vì vậy, thành phố cần xây dựng sàn giao dịch dữ liệu logistics, thống nhất tiêu chuẩn và cơ chế chia sẻ, định giá dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để tối ưu luồng hàng, giảm thời gian chờ và thông quan.
Như tại Cảng container quốc tế Hateco Hải Phòng, việc đầu tư hệ thống điều hành khai thác kết hợp mạng 5G dùng riêng và cổng tự động tích hợp nhận diện quang học giúp 100% xe tải qua cổng tự động, thời gian quay vòng dưới 14 phút. Tại Công ty CP Cảng Hải Phòng, hệ thống điện bờ đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi kéo dài; lưới điện khu vực cảng chưa đủ tải. Việc thay cẩu chạy dầu bằng cẩu E-RTG chạy điện cần kinh phí cao và nâng cấp đồng bộ hệ thống điện nội bộ. Do vậy, để phát triển cảng thông minh, cảng xanh, cần kết nối dữ liệu toàn chuỗi logistics, nâng cấp hạ tầng và huy động nguồn lực đầu tư phù hợp.

Nếu dữ liệu logistics giúp tối ưu hàng hóa thì dữ liệu năng lực nhà cung cấp sẽ mở đường cho doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng. Hiện nay, mức độ tham gia của doanh nghiệp nội địa vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn hạn chế; thông tin về nhu cầu thị trường và năng lực sản xuất chưa đầy đủ, gây khó khăn cho kết nối cung - cầu.
Vì vậy theo các chuyên gia, Hải Phòng cần xây dựng bản đồ số chuỗi cung ứng và cơ sở dữ liệu năng lực nhà cung cấp, thể hiện rõ sản phẩm, công nghệ, thiết bị, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng cung ứng của từng doanh nghiệp. Dữ liệu phải được cập nhật, chia sẻ phù hợp và phục vụ kết nối thực chất, giúp doanh nghiệp FDI tìm kiếm đối tác trong nước, doanh nghiệp nội địa xác định khoảng cách về công nghệ, chất lượng để đầu tư nâng cấp. Qua đó, cơ quan quản lý nhận diện những lĩnh vực thiếu nhà cung cấp để có chính sách hỗ trợ sát nhu cầu.
Định hướng này gắn với Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026 - 2035 được UBND thành phố phê duyệt tại Quyết định số 2843, hướng tới nâng cao năng lực cung ứng linh kiện, phụ tùng, vật liệu kỹ thuật và từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Cùng với đó, bản đồ số về khả năng tiếp cận đầu tư tại khu kinh tế, khu thương mại tự do cần tích hợp dữ liệu quỹ đất, hạ tầng, thủ tục và lao động. Với quy mô khu thương mại tự do dự kiến khoảng 6.292 ha, công cụ này giúp nhà đầu tư đánh giá nhanh điều kiện đầu tư, tìm kiếm địa điểm phù hợp, kết nối với hệ sinh thái cung ứng tại địa phương.
Bên cạnh đó, theo kịch bản quý IV/2026, thành phố đặt mức tăng trưởng 15,39% để phấn đấu cả năm đạt từ 13% trở lên. Trong khi số liệu thống kê chính thức chủ yếu theo quý, Trung tâm điều hành thông minh (IOC) chưa khai thác sâu nội dung điều hành kinh tế; 9/30 công trình trọng điểm chậm tiến độ. Vì thế, thành phố cần kết nối đồng bộ dữ liệu để ước tính GRDP, chỉ số sản xuất công nghiệp hằng tháng, cập nhật kịch bản tăng trưởng và cảnh báo nguy cơ chậm tiến độ dự án. Nhờ đó, lãnh đạo thành phố có thể nhận diện sớm lĩnh vực tăng trưởng thấp, xác định nguyên nhân, điều chỉnh giải pháp kịp thời.
Theo Chủ tịch Hội Điện tử và Tin học thành phố Bùi Xuân Tuấn, 3 vấn đề cần Hải Phòng ưu tiên là xây dựng nền tảng dữ liệu cảng, logistics, ứng dụng dữ liệu dự báo tăng trưởng kinh tế và phát triển chuỗi cung ứng công nghiệp hỗ trợ trong các lĩnh vực điện tử, bán dẫn, đóng tàu. Các vấn đề này cần được triển khai đồng bộ, kết nối dữ liệu hàng hóa, năng lực sản xuất và cơ hội đầu tư để nhận diện chính xác "điểm nghẽn", nâng cao hiệu quả điều hành. Ứng dụng Smart Hải Phòng được phát triển là tiền đề, nền tảng dữ liệu cơ bản để tiến tới đô thị thông minh, chính quyền, công nghiệp, doanh nghiệp và công dân số, góp phần hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng hai con số của cả nước và tăng trưởng trên 13%/năm của thành phố.
THANH VÂN