Đại tá Đồng Quốc Sự kể lại diễn biến chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh tháng 4-1975.
Gặp đại tá Đồng Quốc Sự khi ông vừa bước sang tuổi 76, nhưng người thương binh hạng ¾ vẫn giọng sang sảng đầy khí thế. Vóc dáng cao gầy mà vững chãi, có chăng chỉ thêm những nếp nhăn trên gương mặt từng xông pha bao trận mạc. Cầm trên tay bức lược đồ do chính ông vẽ lại diễn biến Chiến dịch Hồ Chí Minh cách đây vừa tròn 45 năm, những ký ức lại ùa về trong ông như mới hôm qua... Khi ấy ông 31 tuổi, là Chủ nhiệm chính trị Lữ đoàn xe tăng 203, Quân đoàn 2.
Ông Sự kể: “17 giờ ngày 26-4-1975, Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, Tư lệnh Quân đoàn 2 đề nghị Bộ Tư lệnh chiến dịch cho phép Quân đoàn 2 nổ súng mở màn chiến dịch. Trên mặt trận phía Đông và Đông Nam Sài Gòn, Quân đoàn 2 đánh vào căn cứ Nước Trong. Tại đây, địch chống trả quyết liệt. Chúng dùng pháo bắn vào đội hình của ta, dùng xe tăng phản kích nhưng đều bị quân ta đánh hạ. Trên đường tiến vào nội đô Sài Gòn, tại các căn cứ Trường Thiết giáp, chi khu Long Thành, thành Tuy Hạ, địch cũng không thể cầm cự lâu hơn. Tất cả đều bị lực lượng bộ binh, xe tăng, pháo binh của ta tiêu diệt”.
Nói đến đây, vị đại tá nhắc đến anh Quý, người Tân Viên, An Lão, là chiến sĩ pháo thủ số 1 Đại đội 5 với ánh mắt ngời sáng tự hào. Anh Quý sau đó được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng nhất vì thành tích tiêu diệt nhiều xe tăng địch tại Nước Trong.
“Đến tối ngày 28-4, tất cả mục tiêu ở tuyến phòng ngự vòng ngoài để bảo vệ nội đô Sài Gòn của địch đều bị Quân đoàn 2 tiêu diệt. 6 giờ ngày 29-4, toàn bộ các lực lượng hiệp đồng tham gia chiến dịch đồng loạt đánh vào trung tâm Sài Gòn. Theo dự kiến của trên sẽ giải phóng Sài Gòn trong 3-5 ngày”. Đại tá Đồng Quốc Sự nhớ lại, ban đầu, Bộ Tư lệnh chiến dịch giao nhiệm vụ Quân đoàn 4 sẽ đánh chiếm và cắm lá cờ “Quyết chiến - Quyết thắng” trên nóc Dinh Độc lập. Tuy nhiên, trên hướng tiến công từ phía Đông Bắc Sài Gòn, Quân đoàn 4 tiến công đến khu vực thị xã Biên Hòa, Long Bình, Trảng Bom, vấp phải địa hình hiểm yếu, quân địch lợi dụng bố trí lực lượng mạnh, chống trả dữ dội khiến kế hoạch thọc sâu vào nội đô Sài Gòn của đơn vị bị chậm lại.
Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đề nghị Bộ Tư lệnh chiến dịch cho lực lượng thọc sâu của đơn vị được tham gia đánh chiếm Dinh Độc Lập. Được Bộ Tư lệnh chiến dịch đồng ý, ngày 29-4, lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2, trong đó có Lữ đoàn xe tăng 203 xuất kích, tiến công vào các vị trí phòng ngự mạnh của địch ở khu vực cầu qua sông Đồng Nai, Trường sĩ quan Thủ Đức. Đến sáng ngày 30-4, khi đến khu vực cầu Xa Lộ trên sông Sài Gòn và cầu Thị Nghè, quân ta vấp phải sự kháng cự quyết liệt của địch. Chúng quyết tâm phá cầu nhằm ngăn bước tiến của ta. Để giữ chắc hai cây cầu trọng yếu, hai Trung đoàn đặc công 115 và 116 tham gia yểm trợ, giúp lực lượng thọc sâu của Quân đoàn 2 tiến vào nội đô thuận lợi. Địch sử dụng xe tăng M41, M113 điên cuồng phản kích ở đầu cầu Sài Gòn, cùng pháo nã ra từ tàu chiến đóng ở Tân Cảng. “Quân ta bị tổn thất nặng, nhiều chiến sĩ hy sinh tại đầu cầu Sài Gòn” - Nói tới đây, giọng ông trùng xuống khi nhớ về Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1 Lữ đoàn xe tăng 203 Ngô Quang Nhỡ, người mãi mãi nằm lại sau khi bị trúng đạn địch.
Ông Sự kể tiếp: “Đến 9 giờ ngày 30-4, địch bị co cụm, không đủ sức kháng cự. Đội hình lực lượng đột kích của Quân đoàn 2 gồm 400 xe các loại gồm xe tăng, xe kéo pháo, xe công binh, xe chở bộ binh hùng dũng tiến vào nội đô. Lữ đoàn 203 được chọn làm nòng cốt, cùng Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 66 và Sư đoàn 304 dẫn đầu mũi đột kích. Tại đây, một nữ biệt động thành tên Nga trèo lên chiếc xe tăng dẫn đầu chỉ đường cho lực lượng tiến thẳng hướng Dinh Độc Lập. Có mặt trong đội hình hành tiến ấy, ông Sự vẫn nhớ cảnh người dân Sài Gòn đổ ra hai bên đường vẫy cờ hoa, reo hò, đón chào đoàn quân.
11 giờ 30 trưa ngày 30-4-1975, lá cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, báo hiệu chiến dịch Hồ Chí Minh thắng lợi. Tôi cùng đồng đội xúc động nghẹn ngào, mừng vui khôn xiết bởi miền Nam được giải phóng, đất nước hoàn toàn thống nhất. Những người lính xa nhà, xa quê bao lâu nay sắp được trở về đoàn tụ gia đình nên ai cũng rưng rưng...”, ông Sự bồi hồi kể.
Chiến tranh kết thúc. Ông Sự tiếp tục gắn bó với quân đội, từng giữ nhiều chức vụ như: Phó chủ nhiệm Chính trị Quân đoàn 2, Cục phó Cục Chính sách Bộ Quốc phòng... Năm 2005, ông về hưu. Tuy sinh ra và lớn lên ở Mỹ Đức, Hà Nội nhưng mối tình với cô gái quân y người Hải Phòng níu giữ ông ở lại với đất Cảng anh hùng gần 40 năm qua. Để rồi giờ đây, ở tuổi xưa nay hiếm, những ký ức cách đây 45 năm với chiến thắng lịch sử ngày 30-4-1975 vẫn sống động trong tâm trí người lính năm xưa, hòa chung niềm phấn khởi vì sự phát triển vượt bậc của “quê hương thứ hai” này.
Thanh Hà