(HPĐT)- Cách đây tròn 68 năm, ngày 13-5-1955, từ những cửa ô thành phố, các cánh quân “bộ đội Cụ Hồ” rầm rập tiến về Hải Phòng trong niềm vui giải phóng. Mỗi độ tháng 5 về, khoảnh khắc hào hùng ấy lại ùa về trong ký ức những người dân thành phố Cảng…

Bộ đội ta tiến vào giải phóng Hải Phòng ngày 13-5-1955. (Ảnh tư liệu)
Thiếu tướng NGUYỄN DUY KHÂM, nguyên Phó sư đoàn trưởng Sư đoàn 320:
Hải Phòng rực rỡ cờ hoa…

Tôi sinh ra và lớn lên ở thôn Cao Bạt, huyện Kiến Xương (tỉnh Thái Bình). Năm 1952, tròn 16 tuổi, tôi đi bộ đội. Thời điểm năm 1955, tôi là Trung đội phó kiêm Quản trị trưởng Đại đội 27, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 48, Đại đoàn Đồng Bằng 320, được lệnh tiến về tiếp quản Hải Phòng.
Đơn vị tôi hành quân chiến đấu tiếp cận từ hướng Bắc. Đêm 12-5, tôi cùng đồng đội tạm dừng ở Nhà máy xi măng Hải Phòng (nay là Khu đô thị Vinhomes Imperia), củng cố lực lượng để ngày hôm sau vào tiếp quản. Đêm đó, tôi nằm nghỉ trong gara của nhà máy thì đồng đội rủ đi ngắm thành phố về đêm. Ba chúng tôi ra gần chân cầu Lạc Long nhìn về phía thành phố, trong màn đêm, thành phố lung linh trong ánh đèn màu.
Sáng 13-5, trên các ngả đường tiến về trung tâm thành phố, cán bộ, chiến sĩ Đại đội 27 đi dọc đại lộ Paul Bert (phố Điện Biên Phủ ngày nay) thực hiện tuyên truyền chế độ, chính sách của Nhà nước sau ngày giải phóng để nhân dân yên tâm. Tôi khi đó mang trên mình khẩu tiểu liên tuyn (Tulle) bảo vệ cờ của Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 48 diễu hành biểu dương lực lượng. Chúng tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ tiếp quản.
Vào tiếp quản Hải Phòng, Đại đoàn Đồng Bằng 320 khi đó có 3 trung đoàn tiến quân theo 3 hướng. Trung đoàn 64 dồn địch đến Bến Bính, ở lại chiếm khu Quảng Yên. Cánh tôi, Trung đoàn 48, dồn địch từ đường 5 về qua cầu Lạc Long vào thành phố, đi dọc phố Cầu Đất xuống đến Cầu Rào thì dừng lại, đóng quân ở Cát Bi. Trung đoàn 52 dồn lính Pháp từ đó đến Bến Nghiêng, lên tàu rời Hải Phòng, thì quay lại đóng quân tại Đồ Sơn.

Nhân dân Hải Phòng chào đón bộ đội vào tiếp quản Hải Phòng ngày 13-5-1955. (Ảnh tư liệu)
Ngay sau khi tiếp quản, đến tháng 5-1955, Hải Phòng gặp trận bão rất lớn. Các cánh quân chúng tôi khi đó có nhiệm vụ bảo vệ những thành quả giải phóng, cùng nhân dân tiếp quản các nơi, có nhiệm vụ cứu đói, chống bão lụt ở thành phố. Khi đó, suất ăn 8 lạng gạo, chúng tôi để dành lại 2 lạng giúp dân…
Cụ MAI VĂN TÚ, nguyên Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường Trại Chuối (quận Hồng Bàng):
Nhân dân vui ngày giải phóng

Tôi sinh năm 1935, quê Xuân Đinh, Xuân Trường (Nam Định). Năm 1954, tôi hoạt động cơ sở của Thành Đoàn Hải Phòng, trong khu vực 300 ngày tập kết, với nhiệm vụ chủ yếu vận động nhân dân chống di cư, giữ gìn máy móc của các nhà máy không để địch phá hoại và thủ tiêu. Theo Hiệp định Genève ký ngày 20-7-1954, trong thời hạn 300 ngày, quân đội Pháp tập kết tại Hải Phòng, Kiến An và khu Hồng Quảng để rút quân vào phía Nam vĩ tuyến 17. Sau khi buộc phải rút khỏi Thủ đô, địch tập trung phá hoại Hải Phòng, biến nơi đây thành đống đổ nát. Chúng cưỡng ép nhân dân di cư, phá hoại xí nghiệp, công xưởng, vơ vét tài sản để di chuyển vào Nam. Trước tình hình đó, nhằm đập tan ý đồ của binh lính Pháp, các lực lượng tham gia giải phóng cử chúng tôi vào khu vực 300 ngày tập kết làm nhiệm vụ…
Năm 1954, tôi được Thành Đoàn cử sang Hải Dương (khu tự do), học khóa “8 chính sách, 10 điều kỷ luật” để về tiếp quản Hải Phòng. Ngày 13-5- 1955, tôi chính thức cùng đoàn vào tiếp quản Hải Phòng. Khi đó, Đội thanh niên tuyên truyền xung phong (thuộc Thành Đoàn Hải Phòng) chúng tôi có nhiệm vụ về nông thôn, khu phố nội thành tuyên truyền giải thích về chế độ, chính sách của Nhà nước sau ngày giải phóng, giữ vững trận địa tư tưởng trong nhân dân để tiếp đón đoàn tiếp quản, vui ngày giải phóng.
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ tiếp quản, chúng tôi được phân công vào làm các nhiệm vụ: Trực tiếp phục hồi nhà máy Xi măng, xây dựng Nhà hát nhân dân, sân vận động Lạch Tray. Sau này, có đơn vị được phân công xây dựng nhà máy cá hộp Hạ Long. Tôi tham gia phục hồi Nhà máy xi măng, thu dọn chiến trường, sau đó trở thành Ủy viên Thường vụ Đoàn Thanh niên Nhà máy. Ngày 6-5-1959, tôi được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Khi nhà máy thành lập trường công nhân kỹ thuật, tôi được phân công làm Bí thư Đoàn trường. Năm 1959, tôi được điều động lên khu Gang thép Thái Nguyên, tham gia thư ký Công đoàn, Bí thư Đoàn Xưởng gia công đường ống.
Sau này, tôi bổ sung vào Quân đội, được điều động về Quân khu Đông Bắc, đóng quân bảo vệ khu mỏ thị xã Hồng Gai (Hạ Long). Sau kết thúc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất, tôi được phân công phụ trách nhà máy điện Uông Bí, rồi được điều động chuyển ngành về Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng vào năm 1971, được phân công làm Trưởng Ban Quân sự nhà máy. Khi đế quốc Mỹ gây chiến tranh phá hoại lần thứ 2, Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng thành lập Trung đoàn tự vệ pháo cao xạ, tôi làm Tham mưu trưởng Trung đoàn. Tổng kết 2 thời kỳ chống chiến tranh phá hoại, Tự vệ nhà máy bắn rơi và phối hợp bắn rơi 7 máy bay./.
Hải Hậu (lược ghi)