“Trận chiến” 300 ngày
Vợ chồng ông Nguyễn Văn Luyện và bà Trần Thị Mận.
Nhấp ngụm trà nóng, dòng hồi ức bắt đầu ùa về trong trí nhớ của ông Nguyễn Văn Luyện: “Năm ấy, tôi tròn 25 tuổi, là chiến sĩ Trung đoàn 52, Đại đoàn 320 (còn gọi là Đại đoàn Đồng Bằng). Còn nhà tôi đang học tập tại C500, nơi đào tạo sĩ quan an ninh của Bộ Công an...”. Theo Hiệp định Geneve ký ngày 20-7-1954, trong thời hạn 300 ngày, quân đội Pháp tập kết tại các tỉnh Hải Phòng, Kiến An, Hồng Quảng để rút quân vào phía Nam vĩ tuyến 17. Sau khi buộc phải rút khỏi Thủ đô, địch chuyển trọng tâm phá hoại về Hải Phòng. Chúng dùng mọi thủ đoạn hòng biến Hải Phòng thành thành phố chết, để khi ta tiếp quản chỉ còn là đống đổ nát lộn xộn, nhằm hạn chế thắng lợi của ta. Một mặt, chúng kích động, cưỡng ép người dân vào Nam. Mặt khác, chúng phá hoại xí nghiệp, công xưởng, vơ vét cướp phá tài sản để mang vào Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Ban chỉ đạo Khu 300 ngày cùng sự tham gia của Thành ủy Hải Phòng, Tỉnh ủy Kiến An, phong trào đấu tranh diễn ra sôi nổi, quyết liệt, kiên quyết đập tan mọi âm mưu đen tối của địch. Ta tổ chức hàng loạt buổi mít-tinh, biểu dương lực lượng cũng như rải truyền đơn, phát tán tài liệu. Chỉ sau thời gian ngắn, ta tổ chức được đoàn thể cứu quốc và lực lượng dân quân tự vệ tại hầu hết xí nghiệp, nhà máy trọng yếu như nhà máy xi măng, nhà máy đèn, toa xe, xí nghiệp cảng… đấu tranh chống lại hành động vi phạm hiệp định của địch.
Lúc này, trong hàng ngũ sĩ quan, binh lính địch nảy sinh tư tưởng chán chường, hoang mang sau thất bại nặng nề trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Lợi dụng thời cơ, ta đẩy mạnh công tác địch vận, tuyên truyền đường lối, chính sách khoan hồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính phủ. Toàn dân vừa đấu tranh đòi thi hành hiệp định, vừa tấn công mạnh mẽ, từng bước làm suy giảm tinh thần, ý chí chiến đấu của binh lính địch. Khối ngụy quân ngụy quyền từng bước tan rã, nhiều người quay trở về với nhân dân. Cuộc chiến 300 ngày trên mặt trận chính trị, tư tưởng giành thắng lợi vẻ vang, góp phần quan trọng vào ngày quân ta tiến về tiếp quản Hải Phòng.
Tiến về Thành Tô
Cuối tháng 2, đầu tháng 3 năm 1955, Đại đoàn 320 đang đóng quân ở Ninh Giang (tỉnh Hải Dương) nhận nhiệm vụ tiếp quản Khu 300 ngày. Đại đoàn 320 gồm 3 Trung đoàn bộ binh: Trung đoàn 48, Trung đoàn 52 và Trung đoàn 64, cùng Tiểu đoàn pháo cao xạ và các đơn vị trực thuộc. Ngoài ra, Đại đoàn được tăng cường thêm Trung đoàn bộ binh 42 của Quân khu Tả ngạn sông Hồng và các lực lượng bộ đội địa phương thuộc Tỉnh đội Hải Dương, Kiến An và Hải Phòng. “Khi biết tin, anh em bộ đội chúng tôi vui lắm vì được tham giải phóng cả một vùng nơi có hải cảng lớn nhất miền Bắc. Hơn nữa, sau bao năm tháng nằm gai nếm mật nơi miền rừng núi, được giải phóng, tiếp quản khu đô thị lớn nên ai cũng cảm thấy vinh dự, tự hào...”, ông Luyện nói. Trước đó, bộ đội được học tập, quán triệt 8 chính sách, 10 điều kỷ luật trong công tác tiếp quản.
Ông Luyện nhớ như in: “Đầu tháng 5-1955, Đại đoàn 320 chia 3 mũi chính tiến về Thành Tô. Ở hướng Tây, Trung đoàn 42 và Trung đoàn 48 cùng các đơn vị pháo binh theo đường 5, vượt qua cầu Hạ Lý, tiến vào trung tâm thành phố. Sau 1 ngày hành quân không nghỉ, các đơn vị dừng chân ở Quán Toan. Từ hướng Nam, theo trục đường 10, Trung đoàn 52 đóng tại Quý Cao, Ninh Giang (Hải Dương) vượt qua Kiến An, tiến vào các phố Cầu Đất, Lạch Tray, tiếp quản nhanh gọn huyện lỵ Hải An và sân bay Cát Bi. Ở phía Bắc, từ Quảng Yên (Quảng Ninh), Trung đoàn 64 vượt bến phà Rừng và bến Điền Công (Uông Bí), chiếm giữ bến Bính, bến Kiền... Trên đường chúng tôi hành quân, quân Pháp rút đến đâu, quân ta lập tức tiếp quản Hải Phòng đến đó. Người dân sinh sống dọc đường 5 treo cờ Tổ quốc đón chào đoàn quân giải phóng.
Đến trưa 13-5-1955, bộ đội ta chiếm giữ hầu hết mục tiêu quan trọng trong nội thành. Bộ đội ta đi đến đâu, tiếng reo hò, hoan hô rền vang cả góc trời. Già trẻ, gái trai tràn xuống đường, mừng vui vẫy chào. Nhiều người chạy vào giữa hàng quân, ôm chầm lấy chúng tôi, dúi vào tay những bó hoa tươi thắm. Người nước mắt lã chã rơi, người tíu tít hỏi thăm tình hình con em mình. Nhiều bà, nhiều cô còn chuẩn bị sẵn ấm nước chè mời bộ đội. Dù xúc động trước tình cảm đó nhưng chúng tôi vẫn giữ nghiêm đội ngũ chỉnh tề, lưỡi lê tuốt trần hùng dũng tiến vào giải phóng, tiếp quản thành phố trong niềm hân hoan chào đón của người dân...”.
Tiếp lời chồng, bà Trần Thị Mận vẫn nhớ mãi giây phút bước xuống ga xe lửa Hải Phòng trong sáng 13-5-1955. Đoàn tàu được kết hoa rất đẹp chở theo những học viên C500 xuất phát từ ga Hải Dương dừng bánh trong tiếng hô vang của người dân thành phố Cảng: “Hoan hô các anh, các chị bộ đội!”. Trong không khí mừng vui chiến thắng ấy, bà Mận cùng những người đồng đội ôm nhau, rưng rưng xúc động. Vậy là, sau hơn 9 năm anh dũng kháng chiến, từ đây, người dân Hải Phòng cùng người dân miền Bắc lại được hưởng trọn bầu không khí hòa bình, trong độc lập, tự do.
Mối tình sâu nặng
Hòa bình lập lại. Người dân Hải Phòng khẩn trương bắt tay xây dựng, khôi phục lại thành phố. Ông Nguyễn Văn Luyện tiếp tục công tác tại Phòng Chính trị, Đại đoàn 320. Còn Bà Trần Thị Mận công tác tại Sở Công an Hải Phòng. Từ những buổi sinh hoạt, giao lưu của thanh niên Hải Phòng, chàng trai xuất thân từ khu phố cổ Hoàn Kiếm, Hà Nội có dịp gặp gỡ rồi cảm mến trước vẻ đẹp và tấm lòng cô gái đến từ Hải Dương. Hai năm sau ngày giải phóng Hải Phòng, họ kết hôn và gắn bó với đất Cảng từ đó đến nay, coi nơi đây là “quê hương thứ hai”.
65 năm qua, chứng kiến sự đổi thay, phát triển từng ngày của Hải Phòng, ông Luyện, bà Mận phấn khởi, tự hào. Bà Mận kể: “Nhớ những ngày đầu tiếp quản thành phố, điện, nước không có vì bị địch phá hoại. Mỗi sáng, chúng tôi phải ra cầu Muối (nay gần trụ sở UBND thành phố) lấy nước về dùng sinh hoạt… Vậy mà giờ đây, Hải Phòng là một trong những địa phương đứng đầu cả nước về chất lượng điện, nước”. Còn ông Luyện tự hào về vị thế thành phố lớn thứ ba cả nước của Hải Phòng trong những năm gần đây ngày càng được khẳng định. Hải cảng lớn nhất miền Bắc ngày ấy giờ đây vẫn giữ vững vị thế với nhịp độ phát triển cao. Tăng trưởng về GDP và thu ngân sách nội địa luôn nằm trong tốp đầu cả nước. Đời sống người dân ngày càng được cải thiện. Đô thị ngày càng rộng dài, rực sáng, sạch đẹp. Thêm nhiều công trình, dự án, đường mới được khởi công và nhanh chóng hoàn thiện. Nói đến đây, ông Luyện tâm đắc khi kể tên những cây cầu nối trung tâm Hải Phòng đi các huyện: “Nếu như trước đây, từ nội thành đi ngoại thành, người dân đều phải đi phà, mất nhiều thời gian, thậm chí nửa ngày mới đến nơi. Giờ đây, những cây cầu giúp chúng tôi đi lại dễ dàng, thuận tiện hơn rất nhiều…”.
Dù không sinh ra và lớn lên tại Hải Phòng, nhưng vợ chồng ông Luyện, bà Mận cũng như nhiều người có mặt trong đoàn quân tiến về giải phóng Hải Phòng ngày ấy dành đến 2/3 cuộc đời gắn bó nơi đây. Họ là những nhân chứng lịch sử, được chứng kiến toàn diện, chân thực nhất về sự phát triển của thành phố Hoa Phượng đỏ. Mối tình 65 năm với đất Cảng vẫn vẹn nguyên như thuở ban đầu...
Nguyên Nguyên