(HPĐT)- Đề tài hậu chiến. Không mới. Từ giọng văn đến kiểu nhân vật, từ mô típ đến cái kết có phần quen thuộc. Nhưng lại không cũ. Vì nỗi đau chiến tranh còn đó trong mọi gia đình, trên mọi nẻo đường, dưới mỗi mái nhà. Lại để thấy thêm một điều, hậu quả của chiến tranh để lại thật là dài lâu, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Không phải là nỗi đau thực thể, không phải là những thương tích trên thịt da, mà là những hệ quả tâm lý, ẩn sâu bên trong trái tim mỗi người cha, người mẹ, người anh, người em. Chính vì thế đề tài không quan trọng mới hay cũ. Quan trọng là tiếng nói văn chương vẫn mang tới sự đồng cảm với nhiều người đọc. “Vòm trời của mẹ” đi từ cái riêng tới cái chung bởi tìm được sự cộng cảm sâu sắc. Với tính nhân văn bao trùm, truyện ngắn này vẫn và sẽ mang lại sự sinh sắc cho một đề tài lớn của văn chương nước nhà, chính bởi lẽ ấy. (Nhà văn Nguyễn Đình Tú)

-Mày vào Nam, nhớ ghé qua nghĩa trang C xem bia mộ của bác Dệu có làm sao không, rồi thắp cho bác ấy nén nhang nhá.
Bao nhiêu lần tôi sửa soạn đi Nam thì bấy nhiêu lần mẹ dặn tôi vậy. Đang lúc tất bật chuẩn bị đi cho kịp xe, tôi đáp nhấm nhẳng:
- Nghĩa trang liệt sĩ, ngày nào chả có người hương khói, mẹ lo làm gì, con làm việc cách xa đấy cả trăm cây số, đường lại khó đi, tính thời gian có khi mất đẫy một ngày mới đủ đi về.
Tôi nói vậy chỉ để đỡ phải nghe mẹ nói đi nói lại mãi một câu như thế chứ thực tình, lần nào vào Nam tôi cũng cố gắng tìm cơ hội đến nghĩa trang thắp nhang cho bác Dệu. Nào ngờ, đáp lại cái lời nhấm nhẳng của con gái, mẹ tôi dân dấn nước mắt:
- Mấy trăm cây cũng còn gần hơn từ đây vào đấy… mà thôi, các chị có biết ông ấy đâu mà hương với khói.
Các chị có biết ông ấy đâu… Chẳng lẽ tôi lại cãi là con biết thừa, con biết bác Dệu từ lúc con còn bé tí tẹo, con không thể nhớ nổi lần đầu con biết bác ấy là lúc nào, chỉ biết từ bé đến lớn, bác Dệu đã ở đầy trong đầu con rồi. Là vì đêm nào ngủ cùng bà, bà cũng móc cái ảnh đen trắng gói trong tờ lịch bằng giấy pơ-luya cũ rích, lại cuộn mấy lượt túi bóng ra cho tôi xem rồi bảo, “mày gối lên tay bà như vầy này, chỗ này mẹ mày hay gối, chỗ này là chỗ của bác Dệu, mẹ mày với bác Dệu mỗi đứa mỗi bên như vầy này”. Bà nói rồi vỗ vỗ hai cánh tay hai bên xuống giường, có lần tôi hỏi “giờ có mỗi cháu, gối có một bên, tay bà không mỏi à?” nhưng bà bảo “mỏi gì, bác Dệu mày vẫn gối tay bà ngủ đấy chứ, bác ấy còn ru mày ngủ, phù hộ cho mày nên mày mới sống lại, rồi chỉ việc ăn mà lớn lên thôi, không như mấy đứa trẻ con quanh xóm, suốt ngày sài với đẹn”. Bà vừa nói, vừa vỗ mông cho tôi ngủ, bất kể tôi còn bé hay đã lớn, những câu chuyện tôi nghe đến thuộc làu mà có khi vẫn thấy như mới, là vì cái giọng kể của bà, lúc nào cũng bồi hồi như vừa mới xảy ra.
Tôi đóng gói xong hành lý thì xe đến, chỉ kịp bảo “Mẹ ở nhà trông cháu giúp con nhé, con đi đây” rồi leo lên xe, nhanh như thể chỉ chậm tý nữa tôi sẽ phải nghe lại cái lời nhắc nhở nghẹn cứng cổ của mẹ. Mấy năm nay mẹ yếu nhiều, không còn sức đi đâu xa nữa, ngồi ở nhà, nghe ai nhắc đến An Giang là nước mắt lại lã chã, mà tôi thì sợ nhất trên đời là nước mắt của mẹ. Nước mắt của mẹ khiến tôi nhớ đến bà. Bà chăm chút tôi từ bé, nghe mẹ nói lúc tôi chui ra, như cái đèn hoa kỳ, thoi thóp thở, được vài ngày thì tím tái, người nhà gói tôi vào chiếu, đặt xuống đất, nhưng bà giằng lấy, lôi tôi ra ấp vào ngực, bà bảo bà thấy tôi còn thở. Bà đón mẹ con tôi về chăm, ấp tôi như gà mái ấp con, tôi bắt đầu biết ăn dặm thì bà làm thịt cóc, mớm cơm nuôi tôi lớn.
Tôi chín tháng tuổi thì bố đi tham gia chiến đấu trong chiến tranh bảo vệ biên giới, không về, trong đầu óc tôi chưa có ký ức gì về bố ngoài những câu chuyện bà và mẹ kể đi kể lại hằng đêm. Tám tuổi, mẹ tôi đi bước nữa, tôi về ở hẳn với bà. Bà ít kể chuyện về bố, có thể vì bà sợ tôi tủi thân, hoặc là sợ dượng tôi phật lòng lại khổ mẹ. Vậy nên bà chỉ kể cho tôi về bác Dệu. Kể giống như ru tôi ngủ. Và câu đầu tiên bao giờ cũng là “bác Dệu mày học giỏi lắm. Lại thương bà nhất”. Kể một lúc thì mắt đầy nước. Tôi nhìn nước rơi từ mắt bà ra, như nhỏ nước muối mỗi lần tôi đau mắt, vừa cay vừa đắng, nên có lần tôi hét lên với bà rằng “cháu ghét nước mắt, cháu ghét bà khóc, bà khóc cháu không thở được…”. Cũng từ đấy, mỗi khi ngồi cùng tôi, bà không khóc nữa, ít nhất là tôi không thấy nước mắt bà chảy ra, bất kể là bà đang nói chuyện bác Dệu hay chuyện bố tôi. Những câu chuyện không đầu, không cuối cứ bập bùng trôi ra từ miệng bà như ngọn lửa gầy đun sôi nước cho bà tráng bánh.
…Bà thức đêm tráng bánh, đặt nó nằm trong ổ rơm, nó nghểnh cổ ra nhìn lò than đỏ, nhìn bà tráng bánh, mắt nó tròn như hòn bi ấy, đen mà lông mi thì dài như lông mi con gái, da nó trắng như trứng gà bóc, bà mát sữa nên nó bụ lắm, tay chân đóng ngấn như tay mày đây này, nhưng trắng hơn cơ. Ngày xưa ông mày cứ bảo mắt thằng Dệu như mắt con gái, sao bà không đẻ con gái cho nó khỏi phải đi đánh giặc. Ông mày là thợ mộc, khéo tay lắm, toàn chạm khắc sập gụ tủ chè cho nhà giàu thôi con ạ. Hôm nghe tin bác mày chết, ông ấy ngồi băm nát cái ghế gụ đang chạm dở. Bác Dệu mày hám ông lắm, ông đi cả tháng mới về, mà nó nhớ hơi, về đến nhà phải bế nó ngay, không thì nó khóc chói tai con ạ… Nó giống y như mày, khác mỗi cái chim… mùi nó cũng thơm vầy. Vừa nói bà vừa hít hà lên má lên cổ lên trán tôi, rồi ấp chặt tôi vào ngực…
Tôi ngồi học ở chõng, cạnh chỗ bếp bà ngồi tráng bánh. Bà tráng bánh trên miếng vải bịt miệng nồi đồng, vung to như cái nón, mỗi lần giơ gáo dừa múc bột đổ lên vải, bà lại liếc nhìn xem tôi có chăm chú học không. Bánh chín, bà lấy đũa dài khều ra, rải lên phên nứa để phơi, rồi lại múc, lại tráng. Cứ mỗi lần đổi động tác, bà lại liếc sang bàn coi tôi học. Chừng nào tôi làm xong bài, bà cuộn cái bánh vừa chín nóng hôi hổi, vừa thổi vừa đưa tôi ăn, bà có bát gạch cua chưng tóp mỡ để dành riêng cho tôi chấm, vừa ngậy vừa bùi, tôi cắn hai miếng đã hết, bà cười móm mém bảo, tiên sư bố nhà chị, con gái con lứa mà ăn hỗn như bác Dệu mày vậy, ngày trước, cứ tối nào bà tráng bánh là bê cái chõng này xuống đây ngồi, bảo, con ngồi với mẹ để mẹ tráng bánh cho vui, sư cha nó chứ, nó khéo nịnh bà vậy, chứ nó ngồi để rình bà tráng bánh ấy mà, nó thích ăn cái bánh vừa tráng đây này, bảo vừa dẻo vừa dai vừa thơm phưng phức như mùi mẹ, nó đi bắt cua về nấu canh, bà khều gạch để lại chưng tóp mỡ cho nó chấm bánh, nó bảo bánh mẹ tráng chấm với cua con bắt thì ngon hết sẩy, món ngon phải có tay của cả hai mẹ con mình… đấy, bác mày, tý tuổi mà giỏi nịnh bà vậy. “Thì cháu thấy món này cũng ngon thật mà, bà cho cháu thêm cái nữa nhá”… tôi vừa nói vừa chìa tay ra xin bà, bà cầm cái đũa gợt bánh, gõ gõ lên vai tôi như đánh đòn, mà gõ nhẹ chẳng đủ gãi ngứa, bảo, cái thói hay ăn cũng y như bác mày vậy, ăn một lại muốn ăn hai… chị cứ ngồi nguyên đấy, có quyển truyện nào thì mang ra đọc cho bà nghe rồi bà cho ăn, chấm hết cái bát màu chưng ấy là no bụng, ngủ một giấc rồi mai dậy đi học.
Thi thoảng, bà cho tôi đi chợ bán bánh cùng. Sớm tinh mơ tôi còn ngái ngủ nên bà không bắt đi bộ, cho tôi ngồi một bên thúng, thúng bên kia bà đựng bánh, cả một chồng bánh cao gần hết dây quang mà bà vẫn phải ghì tay níu đòn gánh bên ấy xuống cho cân với thúng đựng tôi. Bà vừa đi vừa nhún, tôi sợ bà gánh nặng, đòi đi bộ, nhưng bà bảo tôi cứ ngồi yên đấy, bà gánh nặng tý đi cho ấm, với lại sương mới xuống cỏ còn ướt, nhẫm chân lên rồi lại cước hết gót như bác Dệu, bác Dệu da trắng nên mỏng, hơi lạnh tý là cước toẽ hết gót ra, vậy mà gan lỳ cóc tía, không chịu khóc bao giờ, lúc nào đau quá thì ra ruộng lấy bùn trát vào, nó bảo trát kín vết nứt là chân khỏi đau… nó giống máu bà, cứ lạnh là nứt gót, đau lắm chứ, bà bị rồi bà biết, vậy mà nó cứ bảo không sao… Sư cha nó, lúc nào nó cũng sợ bà lo, ai thèm lo cho nó, lớn rồi thì tự mà thích nghi chứ.
Người ta con đàn cháu đống, còn cái con mẹ mày, bà bảo đẻ cho bà vài đứa cháu bà nuôi thì cứ dùn dắng mãi mới chịu đi bước nữa mà đẻ thêm có mỗi một đứa, mai ngày mày lớn lên, lấy chồng đẻ cho bà một đàn chắt nhá, bà chỉ thích đông con đông cháu thôi… Tôi bảo, mẹ cháu chỉ được đẻ hai đứa thôi bà ạ, đẻ nhiều người ta đuổi việc đấy. Bà bảo, bà biết rồi, cũng tại mẹ mày nghe bác Dệu, bác Dệu muốn mẹ mày lớn lên phải làm cô giáo, về làng mà dạy chữ cho người ta, vậy nên sống chết gì cũng đòi đi dạy học cho bằng được. Năm mẹ mày tốt nghiệp lớp mười, người ta về tận trường tuyển tiếp viên hàng không, cả xã có mỗi mẹ mày đủ tiêu chuẩn, vậy mà nhất định không đi, đòi đi học sư phạm để dạy học cơ. Rồi lúc học xong sư phạm, người ta giữ lại trường để học tiếp rồi còn định cho đi Liên Xô học nhưng mẹ mày cũng không đi, cứ khăng khăng là anh Dệu bảo con phải về làng dạy học thì con về, anh ấy mất rồi, có mỗi cái ước mơ ấy mà con không làm được cho anh con vui thì còn ra làm sao… đấy, mẹ mày nói vậy thì bà đành chịu chứ biết làm sao. Mà bà cũng biết thừa, cái đêm trước hôm bác Dệu đi, hai anh em nó ngồi xay cho bà cối bột ngoài sân giếng, thằng anh bảo con em rằng thì nhà có hai anh em, bố lại đi suốt, anh đi rồi, em ở nhà chăm lo cho bố mẹ, cả làng chả ai hiếm con như mẹ, giờ còn khỏe chứ ít nữa có tuổi mà con cháu không ở gần thì tủi thân lắm. Em cố gắng học rồi làm cô giáo, về làng mà dạy học cho gần bố mẹ rồi mai này chăm sóc bố mẹ nữa, chứ anh đi bộ đội chẳng nói trước được gì, chiến trường trong Nam đang ác liệt lắm… Đấy, chúng nó tưởng nói thầm với nhau thì bà không nghe thấy chứ bà nghe được hết. Rồi mẹ mày nữa, hễ nói cái gì bà không nghe là lại lôi bác Dệu ra, bảo anh ấy viết thư dặn con phải làm thế này thế kia, rằng thì anh ấy muốn bố mẹ phải thế này thế nọ, nó biết bà mù chữ nên cứ dọa bà vậy chứ bà biết thừa, thằng anh đi bộ đội, có kịp viết thư từ gì về. Lúc chết cũng chẳng ai nhặt được cái gì, cả tiểu đội đang dàn trận mà bom nó dội xuống thì tan nát hết chứ còn cái gì… bà nuôi hết hơi, nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa, vậy mà bom nó nổ nhoằng một cái… Ngày tôi còn bé, mỗi lần bà kể đến đoạn ấy, thế nào bà cũng gục đầu xuống gối thấm nước mắt, hoặc là kéo vạt áo bà ba lên mắt chấm chấm, nhưng sau này, bà chỉ thở dài, khuôn mặt lạnh khô, đôi mí mắt đã sụp xuống từ bao giờ nhưng tôi biết, trong ấy vẫn đựng đầy một hồ nước, vắng tôi là tuôn ra.
Chuyến đi Nam lần này là tôi đi tập huấn nghiệp vụ về bảo tàng chiến tranh do chuyên gia bảo tàng Mỹ trực tiếp giảng dạy. Sau khi nghe giảng ở hội trường, chúng tôi sẽ đi thực tế, giảng viên yêu cầu chúng tôi viết những ý tưởng hoặc suy nghĩ của mình về một bảo tàng chiến tranh. Tôi nhớ một câu giảng viên nói trong khi giảng “ở đất nước chúng tôi, di vật của những người lính rất được coi trọng, họ có thể chỉ là một phần rất nhỏ, thậm chí là nhỏ nhất trong hàng quân, trong trận chiến, nhưng với những người mẹ, họ là cả một bầu trời”. Tôi cắm cúi viết về bà và tấm ảnh trong vạt áo nâu của bà, cả tấm ảnh của bố trong ngăn cặp bí mật của tôi nữa…
…Tôi lớn đến đâu, lưng bà còng xuống đến đấy. Một phần vì tuổi già, phần vì tôi phải học nhiều hơn, đêm đêm không có người nghe bà kể chuyện bác Dệu, bà kể cho bóng đêm nghe, kể chán lại gục đầu xuống gối, lưng bà càng còng thêm. Năm tôi mười bảy, bà ốm nặng, tôi kê cái bàn sát giường bà ngồi học, tôi ngồi phía ngoài, quay mặt vào giường, vùi chân vào chăn của bà, bà nằm nghiêng, nhìn tôi học, bàn tay thi thoảng lại xoa xoa gót chân tôi, ram ráp và ấm như than lửa bà vẫn quạt nướng bánh ngày xưa. Tay kia, bà vẫn nắm chặt cái túi áo gài kim băng, bên trong có gói giấy đựng bức ảnh bác Dệu.
Bà càng lúc càng yếu dần rồi đi về miền miên viễn vào một ngày mùa xuân, khi hoa xoan tím nở đầy khắp con đường ngày xưa bà vẫn gánh tôi đi chợ. Mẹ bảo, hôm bác Dệu lên đường, mưa xuân cũng ngậm đầy hoa xoan tím. Lúc thay áo để nhập quan, bàn tay bà vẫn nắm chắc vạt áo đựng tấm ảnh đen trắng nhỏ xíu của bác tôi…
Còn tôi, tôi cũng có một bảo tàng của riêng mình, đó là ngăn cặp bí mật mà tôi luôn tự khâu thêm cho mình chỉ để đựng tấm ảnh của bố, tấm ảnh cắt ra từ bức ảnh cưới hiếm hoi của bố mẹ. Những lúc không có bà bên cạnh, tôi vẫn thường nói chuyện với bố trong ngăn cặp bí mật ấy.
Tôi nộp bài sớm để xin phép ngày hôm sau tách đoàn đi việc riêng, vì những điểm đến của đoàn tôi từng đến nhiều lần.
Tôi đến nghĩa trang C.
Nghĩa trang nằm ven con đường trục chính của tứ giác Long Xuyên, hai bên vẫn là hai cây đại to lớn khúc khuỷu. Bác gác cổng nhận ra tôi, không giấu được nỗi ái ngại, lặng lẽ châm cho tôi một bó hương, vừa châm lửa vừa khẽ bảo:
– Cô thông cảm, chúng tôi…
– Con hiểu mà bác! Con tới K93, con nghe các anh ấy kể chuyện rồi, cái quãng bác con chiến đấu ngày ấy, chỉ còn đất thôi bác ạ. Mẹ con giờ già yếu rồi, chắc cũng không nằng nặc đòi mang hài cốt bác con về nữa đâu, có dòng tên để bác con được hiên ngang trong hàng ngũ ở nơi này, là gia đình con vui rồi bác ạ.
– Dù sao thì chúng tôi vẫn cố…
– Vâng, con hiểu ạ… đất nước mình ở đâu cũng có máu thịt của những người anh em máu mủ ruột rà. Chả giấu gì bác, cái lần đầu con đến An Giang, con cứ nghĩ là con về quê chứ không phải là đến vùng đất mới bác ạ. Bây giờ cũng vậy, con chưa khi nào thấy nơi này xa lạ, cứ như thể con sinh ra từ nơi này ấy…
– Chị thông cảm, chúng tôi biết là…
– Dạ con hiểu… Tôi biết bác quản trang nói đến tấm bia mộ, hồi mẹ tôi chắt chiu đủ tiền vào C tìm mộ bác Dệu nhưng đi cả ngày, đếm đọc từng tấm bia, không tìm thấy tấm bia có tên bác Dệu mà chỉ thấy trong sổ quản trang, bác quản trang đã ghi lại thông tin của mẹ và hẹn nếu tìm được hài cốt sẽ báo cho gia đình. Năm năm sau, không đợi được thông tin của nghĩa trang, mẹ tôi lại vào C, bà đã ngồi chết lặng ôm tấm bia khắc tên bác Dệu, tôi bảo, các bác ấy hy sinh rồi mà vẫn xếp hàng ngay ngắn như chuẩn bị hành quân ra trận ấy, mẹ để bác ở đây với đồng đội cho ấm cúng nhé. Tôi nói vậy vì những câu chuyện nằm dưới tấm bia, cả tôi và bác quản trang đều biết rõ, và chúng tôi đều hiểu được tình cảnh của nhau.
Tôi cầm nắm nhang dâng từng ngôi mộ rồi dừng lại trước ngôi mộ có gắn bia khắc tên bác Dệu. Tấm bia bằng đá xám, uốn cong như vòm trời. Tôi nhấc máy điện thoại cho mẹ:
– Mẹ à, con đang đứng thắp hương ở mộ bác Dệu đây, ngôi mộ nhỏ xinh, sạch đẹp, lúc nào cũng có hoa đại trắng nở thơm ngát.
Giọng mẹ đựng đầy nước mắt:
– Vậy là mẹ mừng rồi, để mẹ lên bàn thờ nói chuyện cho bà yên tâm
Tôi định bảo, bà xuống đấy thế nào chẳng gặp bác, nhưng lại thôi, vì nhớ ra có lần mẹ nói, mẹ mơ thấy bà về bảo bác Dệu vẫn đi đánh giặc, bà chưa tìm gặp được… Tôi chào mẹ rồi tắt máy, tựa lưng vào gốc đại già, mở ngăn xép của túi xách, mang hai tấm ảnh ra xem, một tấm ảnh bố, một tấm ảnh bác Dệu, tôi đã lấy được khi mọi người thay áo quan cho bà, tôi không muốn bà mang tất cả về lòng đất, đó không phải là bầu trời của riêng bà.
Tạm biệt bác quản trang, tạm biệt những người lính, tôi bước ra đường cái vẫn ngoảnh đầu nhìn lại những tấm bia uốn cong như vòm trời, thiêm thiếp dưới gốc hoa đại trắng. Trời chiều đổ xuống kinh Vĩnh Tế một cốc nước tím sẫm, loang dần thành mảnh khăn lụa, lặng lẽ chảy về biển Đông. Trong vô số hạt phù sa chảy trong các dòng nước dồn về Cửu Long giang, tràn ra biển Đông rồi hòa lẫn với sông Hồng, thế nào chả có hạt phù sa của bác tôi, hạt phù sa ấy cũng sẽ bồi về sông Đáy, chảy về những cánh đồng quê tôi, nơi ông bà tôi và sau này cả bố mẹ tôi, chúng tôi, con cháu của chúng tôi nữa, vẫn đợi bác Dệu về./.
Truyện ngắn của Vũ Thanh Lịch - MINH HỌA: ĐẶNG TIẾN