(HPĐT)- Trong quý 1-2022, Sở Tài nguyên và Môi trường (TNMT) hoàn thiện, trình UBND thành phố phê duyệt dự án khoanh định vùng hạn chế, vùng phải đăng ký khai thác nước ngầm thành phố. Việc hoàn thiện dự án này là cơ sở để nâng cao hiệu lực quản lý, đồng thời bảo đảm sự hài hòa giữa khai thác và bảo tồn nguồn tài nguyên này.

Hệ thống kênh dẫn nước từ các giếng khoan vào hồ chứa nước ở huyện Cát Hải.
Hơn 165 khu vực hạn chế khai thác
Theo Phó trưởng phòng phụ trách Phòng Tài nguyên nước (Sở Tài nguyên và Môi trường) Cao Thị Lan Anh: từ năm 2021, Phòng Tài nguyên nước được lãnh đạo Sở TNMT giao nhiệm vụ chủ trì khảo sát, xác định những khu vực cần được hạn chế khai thác, khu vực phải đăng ký khai thác nước ngầm. Phòng Tài nguyên nước phối hợp đơn vị liên quan khảo sát, nghiên cứu tại 98/218 xã, phường, thị trấn với tổng diện tích 530,61 km2. Trên cơ sở điều tra, đánh giá, xác định ngưỡng giới hạn khai thác của nước ngầm, các tầng chứa nước ở các khu vực trên địa bàn thành phố; trên cơ sở đó xây dựng các tiêu chí xác định khu vực hạn chế khai thác; khu vực cho phép khai thác nhưng có biện pháp quản lý, kiểm soát chặt chẽ; ngưỡng khai thác cho phép đối với từng khu vực, bảo đảm việc khai thác không vượt quá giới hạn cho phép. Qua đó, dự kiến có khoảng 165 vùng hạn chế khai thác ở mức độ 1, 3 và vùng hỗn hợp (không có vùng hạn chế cấp độ 2 và 4) theo quy định của Nghị định 167/2018/NĐ-CP quy định việc hạn chế khai thác nước dưới đất. Cùng với việc xác định vùng hạn chế khai thác và khai thác phải đăng ký, đơn vị đề xuất các biện pháp áp dụng đối với những khu vực này. Như hạn chế hoặc không cấp giấy phép khai thác, quy định công nghệ khai thác, quy định về xử lý, trám lấp giếng sau sử dụng…
Vùng hạn chế cấp độ 1, gồm: 1 vùng có sự cố sụt, lún đất và biến dạng địa hình với diện tích khoanh định là 0,78 km2; 21 vùng có biên mặn, có hàm lượng chất rắn cao hơn 1.500 mg/l, phân bổ trên 4 tầng chứa nước; 58 vùng với diện tích khoảng 11,54 m2 có nguy cơ ô nhiễm cao do các nguồn thải là bãi rác, bãi chôn lấp chất thải rắn, nghĩa trang; 60 vùng với diện tích 52,31 km2 có nguy cơ bị ô nhiễm trung bình. Vùng hạn chế 3: gồm 15 vùng cấp nước trên 15 quận huyện trên địa bàn thành phố với tổng diện tích khoanh định là 396,1 km2. Đây là những khu vực được đấu nối vào hệ thống cấp nước tập trung hoặc chưa được đấu nối nhưng có điểm đấu nối liền kề xác định được. Vùng hạn chế hỗn hợp: gồm 50 vùng, đây là diện tích chồng lấn của vùng hạn chế 1 với vùng hạn chế 3.
Kiểm soát, bảo vệ hiệu quả hơn
Hiện nay, tổng trữ lượng nước ngầm có thể khai thác toàn thành phố khoảng 244,1 nghìn m3/ngày. Thời gian qua, việc khai thác nước ngầm của thành phố chưa được kiểm soát chặt chẽ. Do đó, làm suy giảm chất lượng nguồn tài nguyên này. Mực nước ngầm bị hạ thấp, tại một số vị trí bị ô nhiễm về vi sinh với nồng độ coliform, ecoli vượt ngưỡng cho phép. Như: nguồn nước ngầm trên địa bàn huyện Tiên Lãng có mức độ ô nhiễm nhiều nhất, với nồng độ chất hữu cơ, kim loại khá cao. Tại huyện Cát Hải, nước có dấu hiệu ô nhiễm về vật lý như trong nguồn nước có mảnh nhựa, gỗ…; nước ngầm tại quận Đồ Sơn có dấu hiệu ô nhiễm về dinh dưỡng. Nước ngầm ở nhiều khu vực thuộc các huyện Thủy Nguyên, Tiên LãngVĩnh Bảo hạ xuống dưới âm 8m. Có tình trạng này là do nhiều năm qua, việc khai thác nước ngầm còn thả nổi, không quan tâm về chất lượng và tác động của việc khai thác đối với chất lượng nguồn nước. Ví dụ nước ngầm ở tầng phía trên khu vực phía Nam sông Cấm và Bắc sông Văn Úc chủ yếu là nước lợ; còn ở dải Nam sông Văn Úc có đến 50% nước nhạt và 50% nước lợ. Đây là những không phù hợp khai thác ngầm. Bởi việc khai thác nước ở khu vực này rất dễ làm nhiễm mặn nguồn nước. Tuy nhiên, tại những khu vực này vẫn ghi nhận hàng trăm giếng khoan của hộ dân và cơ sở sản xuất nhỏ lẻ. Trong đó, có nhiều giếng hiện không còn sử dụng, nhưng không được trám lấp theo quy định, gia tăng tình trạng ô nhiễm nguồn nước ngầm.
Phó trưởng phòng phụ trách Phòng Tài nguyên nước (Sở Tài nguyên và Môi trường) Cao Thị Lan Anh cho biết: việc khẩn trương hoàn thiện, phê duyệt dự án góp phần tạo lập và xây dựng đồng bộ các văn bản quy phạm pháp luật, triển khai thực hiện các chính sách, pháp luật, chiến lược về tài nguyên nước. Đây là cơ sở để bảo vệ, phòng ngừa sự cố cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước ngầm; từ đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm tài nguyên nước. Cung cấp thông tin, dữ liệu cho công tác cấp phép trong lĩnh vực tài nguyên nước; đồng thời từ chối cấp phép những dự án ở những khu vực không bảo đảm yêu cầu việc cấp phép; xử lý nghiêm những cơ sở cố tình vi phạm; góp phần sử dụng bền vững nguồn tài nguyên này./.
bài: NGUYÊN MAI - ảnh: phan tuấn