48,7% là nợ khó thu

Công ty CP công nghiệp tàu thủy Nam Triệu nợ 5,4 tỷ đồng tiền thuế chưa có khả năng thanh toán.
Trong ảnh: Các nhà xưởng của Công ty CP công nghiệp tàu thủy Nam Triệu.
Theo báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội, thời gian qua, công tác thu nợ thuế được thực hiện quyết liệt, đồng bộ. Nhờ vậy, tỷ trọng tổng nợ trên tổng thu nội địa giảm mạnh từ 12,2% năm 2019 xuống 6,7% năm 2018 và tính đến cuối tháng 8-2019 ở mức 6,9%. Mặc dù vậy, tổng số tiền nợ thuế cơ quan thuế và cơ quan hải quan quản lý tính đến ngày 31- 8- 2019 vẫn còn khoảng 88 nghìn tỷ đồng. Trong đó, tiền nợ thuế không còn khả năng thu ngân sách gần 43 nghìn tỷ đồng, chiếm 48,7% tổng số tiền nợ thuế.
Tính riêng số nợ cơ quan thuế quản lý lên tới hơn 82 nghìn tỷ đồng. Trong đó, tiền nợ thuế có khả năng thu là hơn 26 nghìn tỷ đồng, chiếm 32,5% tổng số tiền nợ thuế; tiền phạt vi phạm hành chính về thuế và tiền chậm nộp phát sinh của nợ có khả năng thu là gần 17 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 20,3%. Tiền nợ thuế không còn khả năng nộp của người nộp thuế đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, liên quan đến trách nhiệm hình sự, đã giải thể, phá sản, ngừng, nghỉ và bỏ địa chỉ kinh doanh là 39 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 47,3% tổng số tiền nợ thuế. Số nợ thuế do ngành Hải quan quản lý là hơn 5 nghìn tỷ đồng. Trong đó, tiền thuế nợ không còn khả năng thu gần 4000 tỷ đồng, chiếm 70,7% tổng nợ.
Theo Bộ Tài chính, trong số nợ đọng nêu trên, có hơn 800 nghìn người nộp thuế đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, đã tự phá sản, giải thể; chấm dứt kinh doanh, không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký kinh doanh, địa chỉ liên lạc đã đăng ký với cơ quan quản lý thuế; người nộp thuế đã bị cơ quan quản lý thuế có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi hoặc đã bị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; người nộp thuế bị thiệt hại vật chất do gặp thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ..., với tổng số nợ đọng là hơn 38 nghìn tỷ đồng, bao gồm 22 nghìn tỷ đồng nợ thuế gốc; 16 nghìn tỷ đồng tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp.
Để xảy ra tình trạng nêu trên, có trách nhiệm của cơ quan thuế và người nộp thuế. Trong đó, trách nhiệm của người nộp thuế là chủ yếu bởi chính sách pháp luật về quản lý thuế hiện hành theo cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế; cơ quan quản lý thuế chỉ tuyên truyền, hỗ trợ, thanh tra, kiểm tra...
Cần thiết xử lý số nợ thuế
Bộ Tài chính cho biết, để xử lý số nợ thuế này phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 đã quy định đầy đủ các đối tượng được xử lý nợ (chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, giải thể, phá sản, bị thiên tai, bất khả kháng...) và các điều kiện xử lý, thẩm quyền xử lý nợ. Tuy nhiên, luật này có hiệu lực thi hành từ 1-7-2020. Vì vậy, đối với các khoản nợ phát sinh trước ngày 1- 7-2020 không được hồi tố để xử lý.
Trong khi đó, Luật Quản lý thuế hiện hành quy định 3 trường hợp được xóa nợ thuế nhưng phải thực hiện tuần tự các biện pháp cưỡng chế nợ và khoản nợ thuế đủ 10 năm. Hầu hết các khoản nợ nêu trên chưa đủ điều kiện 10 năm nên không được xử lý nợ. Đáng chú ý, các trường hợp người nộp thuế đã chết, đã mất tích, giải thể, phá sản, ngừng bỏ hoạt động kinh doanh, thực tế không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước nhưng vẫn phải tính tiền phạt và tiền chậm nộp. Số nợ này là nợ ảo, không còn khả năng thu vào ngân sách. Ngoài ra, còn có một số khoản tiền chậm nộp; tiền phạt chậm nộp vì những lý do bất khả kháng cũng cần sớm được xử lý. Vì những lý do đó, tại kỳ họp thứ 8, Chính phủ trình Quốc hội thông qua nghị quyết về khoanh tiền nợ thuế, xóa tiền phạt chậm nộp, tiền chậm nộp đối với người nộp thuế không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước, coi đây là biện pháp cần thiết, tạo cơ sở pháp lý để xử lý nợ tồn đọng trước ngày 1- 7- 2020 mà không có khả năng thu nộp ngân sách nhà nước. Đây cũng là biện pháp để xử lý, khắc phục triệt để số nợ đọng không còn khả năng nộp ngân sách nhà nước đã tồn tại qua nhiều năm, không để dây dưa kéo dài; đồng thời tháo gỡ khó khăn cho những người nộp thuế có phát sinh nợ thuế do gặp thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ.
Để bảo đảm sự minh bạch, công khai, công bằng, Chính phủ dự thảo nghị quyết theo nguyên tắc: Tuân thủ quy định pháp luật, đúng đối tượng, đúng thẩm quyền và bảo đảm điều kiện quy định hồ sơ, quy trình, thủ tục và chịu trách nhiệm của cá nhân có liên quan theo quy định của pháp luật; công khai, minh bạch việc xử lý nợ gắn với việc kiểm tra, giám sát của các cơ quan có thẩm quyền, giám sát của người dân. Việc xử lý nợ nhằm tạo điều kiện tháo gỡ khó khăn cho người nộp thuế, nhưng phải phòng ngừa và ngăn chặn việc lợi dụng chính sách để trục lợi và cố tình chây ỳ, nợ thuế. Nếu cơ quan quản lý thuế phát hiện việc xóa nợ không đúng quy định hoặc người nộp thuế (là tổ chức hoặc cá nhân kinh doanh) đã được xóa nợ khi quay lại sản xuất, kinh doanh hoặc thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh mới thì phải hủy quyết định xóa nợ, khoanh nợ (nếu có) và nộp vào ngân sách khoản nợ được xóa. Dự thảo nghị quyết cũng quy định rõ phạm vi, đối tượng áp dụng, các biện pháp xử lý cũng như thẩm quyền xử lý nợ; quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan có liên quan, bảo đảm chặt chẽ, phòng ngừa tiêu cực, tham nhũng./.
Thanh Hiệp - Ảnh: Duy Thính