(HPĐT)- Theo quy định của UBND thành phố, hằng năm, các xã được phân bổ kinh phí sự nghiệp môi trường từ 100 triệu đồng đến 140 triệu đồng. Mức giá tối đa dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt khu vực nông thôn có sử dụng ngân sách nhà nước mà các tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã được thu đối với hộ gia đình là 30.000 đồng/tháng. Thực tế cho thấy, nguồn lực này là chưa đủ để giải bài toán rác thải tại nông thôn hiện nay.
.jpg)
Lò đốt rác BD-Anpha tại thị trấn Vĩnh Bảo xuống cấp, hoạt động kém hiệu quả, tồn đọng rác thải.
Mức thu đã thấp còn “ngại” đóng
Theo Quyết định số 14/2018 của UBND thành phố, mức giá dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt khu vực nông thôn có sử dụng ngân sách nhà nước mà các tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã được thu tối thiểu là 20.000 đồng/hộ/tháng, tối đa 30.000 đồng/hộ/tháng. Tuy nhiên, ghi nhận tại các xã, chỉ khoảng 70% số hộ dân đóng phí dịch vụ thu gom, xử lý rác thải. Số còn lại thường viện lý do rác ít, họ tự đốt hoặc xử lý tại nhà; một số gia đình gần đê, sông “tiện” vứt rác ra môi trường chung quanh..., nên chây ì trong việc đóng phí.
Đơn cử trên địa bàn xã Mỹ Đức (huyện An Lão) có 8 thôn, riêng có 1 thôn tự xử lý rác tại nhà mặc dù UBND xã nhiều lần giải thích, tuyên truyền, vận động. Các thôn còn lại, với mức thu từ 25.000- 30.000 đồng/hộ, tỷ lệ thu cũng chỉ đạt khoảng 70%. Với số tiền thu được cộng số tiền được hỗ trợ hằng năm từ nguồn ngân sách, các tổ thu gom rác chỉ đủ trả chi phí nhân công, không còn kinh phí xử lý rác bằng hóa chất để chôn lấp hoặc đầu tư các công nghệ đốt rác khác.
Cũng trong tình trạng tương tự, Chủ tịch UBND thị trấn Vĩnh Bảo Phạm Đại Thắng cho biết: Nguồn kinh phí của huyện cấp cho các hoạt động môi trường khoảng 100 triệu đồng/năm, nên chi cho việc xử lý rác cũng chỉ được vài chục triệu đồng. Hiện việc thu gom, vận chuyển xử lý rác tại địa bàn được giao cho HTX Đại Phát. Đơn vị này đang thu từ 30 nghìn đến 40 nghìn đồng/hộ, song cũng chỉ thu được phí gần 70% số hộ dân.
Lý giải về tình trạng này, bà Nguyễn Thị Thơm, ở xã Hòa Bình (huyện Vĩnh Bảo) bày tỏ: Tổ thu gom xử lý rác thải trên địa bàn chỉ thu khoảng 20.000 đồng/hộ. Tuy nhiên, nhiều gia đình không đóng, vì cho rằng tổ cũng chỉ tập kết, dồn rác ứ đọng tại bãi rác tập trung, vẫn gây ô nhiễm môi trường. Những hộ này thường tự thu gom rác rồi đem đốt hoặc vứt tại bãi rác tạm, thậm chí ven đường giao thông.
Theo thống kê của Sở NNPT-NT, tại các xã đang thu gom và xử lý rác bằng hình thức lò đốt rác và vận chuyển ra bãi rác tạm, mức thu bình quân là 14 nghìn đồng/tháng/hộ, thấp hơn mức tối thiểu thành phố quy định là 6 nghìn đồng, nhưng số hộ đóng chỉ đạt 70,9%. Đối với các xã thu gom, vận chuyển đi xử lý tập trung, mức thu trung bình là 24,4 nghìn đồng/tháng/hộ, số hộ đóng đạt 81,3%. Cá biệt tại huyện Vĩnh Bảo, có xã thu mức 6.000 đồng/tháng/hộ, quá thấp so với quy định. Hiện công tác thu tiền vệ sinh môi trường tại hầu hết các xã đều giao tổ thu gom rác tự thu, tự chi, thiếu sự quản lý của chính quyền địa phương. Mức thu thấp, nên nguồn thu không bảo đảm chi phí, trong đó có tiền công cho người lao động. Trung bình mỗi người chỉ đạt 2 triệu đồng/tháng/người.
Chủ tịch UBND xã Mỹ Đức Đỗ Văn Thanh bày tỏ: Thực tế cho thấy, vướng mắc cốt lõi của bài toán rác thải nông thôn hiện nay vẫn là sự thiếu nguồn lực để xử lý rác theo công nghệ phù hợp. Nguồn ngân sách đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường ở các địa phương còn thấp (mỗi năm từ 100 triệu- 140 triệu đồng/xã), mức thu phí thu gom, xử lý rác thải từ các hộ dân cũng chưa đủ bù chi, trong khi tỷ lệ số hộ không đóng còn cao dẫn đến việc thiếu kinh phí để xử lý rác thải. Rác thu được ngày nào, chất đống tạm ngày đó. Khi nào rác nhiều quá thì đem đốt hoặc chôn lấp mà không được xử lý hóa chất theo đúng quy trình dẫn đến gây thêm ô nhiễm.
Thống kê từ Sở NN-PTNT, năm 2020, tổng số tiền phí dịch vụ vệ sinh thu được từ người dân khu vực nông thôn là 57.465 triệu đồng/năm. Kinh phí chi trả cho công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác ở các xã là 91.045 triệu đồng/năm. Như vậy, so với số thu từ các hộ dân, còn hụt 33.580 triệu đồng/năm.
Năm 2021, tổng kinh phí ngân sách đã cấp cho công tác môi trường của các huyện là 50.950 triệu đồng. So với số kinh phí các huyện đề nghị hỗ trợ để cải tạo các bãi rác hiện nay, còn thiếu 156.781 triệu đồng.
Lò đốt rác công nghệ lạc hậu, hoạt động tậm tịt
Ngoài lượng lớn rác sinh hoạt được thu gom, vận chuyển và chôn lấp tạm tại các bãi rác tạm ở địa phương (hiện chiếm 65,1%), lò đốt rác xuất hiện như giải pháp tạm thời để khắc phục tình trạng rác thải dồn ứ. Tại Hải Phòng hiện có 5 lò đốt rác BD-anpha được triển khai từ năm 2015 tại các huyện Thủy Nguyên, Vĩnh Bảo, An Lão và Kiến Thụy. Mức đầu tư mỗi lò khoảng 6 tỷ đồng, công suất xử lý dự kiến khoảng 12 tấn rác/ngày bằng công nghệ đốt có kiểm soát nhiệt, không cần nhiên liệu đốt kèm. Tuy nhiên, sau một thời gian vận hành, các lò xuống cấp, công nghệ dần lạc hậu nhưng không được sửa chữa hoặc cải tiến, phát sinh bất cập trong hoạt động, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và đời sống người dân.
Có dịp đến, bãi rác tạm xã Quốc Tuấn (huyện An Lão) vào ngày cuối tháng 9-2021, ngay bên cạnh lò đốt rác BDanpha là “núi rác” cao khoảng 2m, rộng tới hàng nghìn m2. Lò đang “cọt kẹt” vận hành, phả khói đen trên bầu trời. Chung quanh khu vực này không có chỗ chứa nước thải rác, xuất hiện các vũng nước đọng bốc mùi hôi thối, nếu trời mưa nước thải sẽ chảy ra ruộng đồng và sông Văn Úc ngay cạnh bên. Chủ tịch UBND xã Trịnh Văn Lữ cho biết: Lò đốt rác BDanpha xã Quốc Tuấn được đầu tư 6,4 tỷ đồng từ nguồn ngân sách, xây dựng năm 2015, theo kế hoạch sẽ xử lý rác thải sinh hoạt cho toàn huyện An Lão, công suất 0,5 tấn/giờ. Năm 2016, lò được UBND huyện An Lão giao cho xã Quốc Tuấn quản lý. Tuy nhiên, khi vận hành, các cơ quan chức năng kiểm tra, phát hiện thông số chưa bảo đảm đạt quy chuẩn. Công suất xử lý rác của lò cũng chỉ đạt khoảng 70% so với thiết kế. Từ khi lò đi vào vận hành đến nay, do không có nguồn lực nên khi hư hỏng chỉ được sửa chữa tạm. Do đó, công suất ngày càng kém, thậm chí chỉ xử lý được lượng rác của riêng xã Quốc Tuấn phát sinh trong ngày. Số rác còn lại của xã còn tồn từ nhiều năm, nằm sát lò đốt rác, UBND xã đang đề xuất UBND huyện bố trí mặt bằng để thực hiện chôn lấp, bảo đảm vệ sinh môi trường.
Tại bãi rác của thị trấn Vĩnh Bảo, nơi cũng được đầu tư lò đốt rác BD- anpha, lượng rác tồn đọng từ nhiều năm có chỗ cao tới hơn 3m, trải rộng trên hàng trăm m2, khói lò có mùi khét do ống khói hỏng. Ông Phạm Ngọc Phàn, Giám đốc HTX Đại Phát- đơn vị quản lý, vận hành lò bày tỏ: Từ năm 2020, đơn vị phụ trách thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt với tổng thu khoảng 70 triệu đồng/tháng từ người dân. Cộng thêm UBND thị trấn Vĩnh Bảo hỗ trợ 40 triệu đồng/tháng, chỉ đủ để chi trả phí nhân công, vận hành tạm lò đốt rác, không còn nguồn để sửa chữa, nên lò đốt rác ngày càng xuống cấp, khi đốt rác có khói đen, mùi khét. Trong khi đó, dự kiến kinh phí sửa chữa lò đốt rác tính bằng tiền tỷ.
Còn tại huyện Kiến Thụy, tháng 7 vừa qua, UBND huyện chỉ đạo tạm dừng hoạt động của lò đốt rác tại Khu xử lý rác thải tập trung của HTX Thành Vinh tại hai xã Đoàn Xá và Đại Hợp bởi ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến đời sống người dân. Trước đó, lò đốt rác tại các xã Minh Tân và Phục Lễ (huyện Thủy Nguyên) cũng phải dừng hoạt động bởi khói đốt khét gây ô nhiễm môi trường. Có thể nói việc xử lý rác thải khu vực nông thôn hiện nay bị “bó” bởi nhiều cái “khó”. Trong khi mức thu phí vệ sinh môi trường từ người dân còn thấp, nguồn ngân sách cấp cho công tác môi trường cũng không nhiều nên chính quyền địa phương đành “giật gấu vá vai” với các giải pháp tạm thời, giải quyết tình thế. Nếu tình trạng này cứ tiếp diễn, lượng rác thải tồn đọng ngày một nhiều, lúc đó việc khắc phục hậu quả càng khó khăn, tốn kém, môi trường càng ô nhiễm.
.....................................
Kỳ cuối: Phối hợp đồng bộ nhiều giải pháp
bài: TRÚC NHI - ảnh: trúc lâm