Tác giả - Tác phẩm

Xúc động bài bình Tống biệt hành của cháu nội nhà thơ Thâm Tâm

TIẾN HUY 28/07/2026 19:30

Năm 1995, khi là học sinh lớp 11, chị Nguyễn Mỹ Trang, cháu nội nhà thơ Thâm Tâm đã bình bài thơ Tống biệt hành của ông nội trên ấn phẩm Hương đầu mùa và đoạt giải ba.

nguyen-my-trang2(1).jpg
Bài bình Người ra đi có trở lại của cháu nội nhà thơ Thâm Tâm được gia đình lưu giữ.

Người ra đi có trở lại

Nhà thơ, liệt sĩ Thâm Tâm tên thật là Nguyễn Tuấn Trình (sinh ngày 12/5/1917 tại thị xã Hải Dương). Từ năm 1940, ông tham gia viết báo, viết văn và thường đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy, Ngày nay, Tiểu thuyết thứ năm, Truyền bá quốc ngữ... Ông từng thử sức trên nhiều thể loại nhưng thành công hơn cả vẫn là thơ. Ông hy sinh ngày 18/8/1950 trên đường đi công tác trong Chiến dịch Biên giới.

Nhà thơ Thâm Tâm để lại nhiều tác phẩm có giá trị ở nhiều thể loại, song bài thơ Tống biệt hành được biết đến nhiều hơn cả, với những vần thơ còn đọng mãi qua từng thế hệ.

Ông Nguyễn Tuấn Khoa, con trai nhà thơ Thâm Tâm, nguyên Viện trưởng Thông tin y học (Bộ Y tế) cho biết năm 1988, quyển “Thơ Thâm Tâm” do Mã Giang Lân sưu tầm đã được xuất bản. Từ năm 1990, bài thơ Tống biệt hành đã được đưa vào sách giáo khoa lớp 11. Các nhà phê bình văn học đã có nhiều bài bình luận về bài thơ này, phân tích về người ra đi, người đưa tiễn, ý chí quyết lên đường và nỗi lưu luyến, day dứt của buổi chia tay…

Về câu chuyện chị Nguyễn Mỹ Trang, con gái ông Khoa bình bài thơ Tống biệt hành của ông nội, ông Khoa kể năm 1995, trên mục Tao đàn thuộc ấn phẩm Hương đầu mùa của Báo Hoa Học Trò mở cuộc thi bình bài thơ Tống biệt hành. Nguyễn Mỹ Trang, cháu nội nhà thơ Thâm Tâm, khi đó học lớp 11 chuyên hóa, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã tham gia cuộc thi bằng bài viết “Người ra đi có trở lại” và đoạt giải ba.

nguyen-my-trang1-1-.jpg
Chị Nguyễn Mỹ Trang năm 1995 - khi tham gia cuộc thi bình bài thơ Tống biệt hành (ảnh gia đình cung cấp).

Bài dự thi có đoạn: Xuất hiện lần đầu tiên trên báo Tiểu thuyết thứ bảy năm 1940, có thể nói Tống biệt hành là một sáng tác thành công nhất của Thâm Tâm và có lẽ, nó đáng được xếp vào hàng những bài thơ mới hay nhất của nền thơ Việt Nam trước cách mạng.

Nửa thế kỷ qua, đã có biết bao bài phân tích, bình phẩm, biết bao khám phá đầy tinh tế, và cũng có biết bao ý kiến đánh giá rất khác nhau về Tống biệt hành. Phải chăng tất cả bắt nguồn từ cái lạ lùng riêng biệt của bài thơ và tác giả? Đúng như nhận xét của Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, “Biệt ly là một chủ đề trung tâm trong sáng tác của Thâm Tâm”, nhưng điều đáng chú ý là ở chỗ, cuộc chia ly trong thơ ông không bi thương đầy nước mắt như cảnh lưu biệt của những kẻ tình nhân, cũng không rầm rộ, hừng hực hào khí như sự lên đường ra mặt trận của các chiến sĩ cách mạng đương thời. Tất cả chỉ là một tình cảm thâm trầm, lắng đọng nhẹ nhàng, một thứ tình cảm rất Thâm Tâm!

Đưa người ta không đưa qua sông/ Sao có tiếng sóng ở trong lòng? Bóng chiều không thắm, không vàng vọt/ Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Một bến sông, một buổi hoàng hôn, một người đi, một kẻ ở lại… dường như Thâm Tâm đã là họa sĩ vẽ nên bức tranh chia ly vào lòng người. Hô sóng vào lòng, gọi hoàng hôn lên mắt...

Lãng mạn, nhẹ nhàng trong từng câu chữ

Nguyễn Mỹ Trang là người có cá tính mạnh mẽ nhưng ẩn giấu sự lãng mạn, nhẹ nhàng trong từng câu chữ, có lẽ được thừa hưởng từ ông nội.

nha-tho-tham-tam(1).jpg
Nhà thơ Thâm Tâm (hàng đầu tiên, bên phải) cùng đồng nghiệp ở Báo Vệ Quốc quân tại Chiến khu Việt Bắc (ảnh tư liệu).

Chị Trang viết: Trong lịch sử văn thơ, chắc chắn “sóng trong lòng” và “hoàng hôn trong mắt” đã xuất hiện ít nhiều đâu đó, nhưng ngoài Thâm Tâm, đã có ngòi bút nào viết nên những câu hỏi tu từ mang đầy tính lãng mạn tuyệt vời như thế hay chưa?

Hỏi đấy, mà đâu cần trả lời, bởi hoàng hôn đong đầy “trong mắt trong” chính là nỗi rưng rưng, là niềm xúc động trong lòng người ra đi. Nhưng vì sao tất cả những cảm xúc nội tâm ấy lại được bao bọc bằng một cái vỏ có vẻ như ngang tàng, bất cần đời: Đưa người, ta chỉ đưa người ấy/ Một giã gia đình, một dửng dưng… khiến cho không ít người đã lầm tưởng rằng người ra đi hoàn toàn “dửng dưng”, đối lập với sự xao xuyến, thảng thốt của kẻ đưa tiễn? Theo tôi, chẳng có lý do gì hơn ngoài cái “chí lớn” của người đi.

Cái “chí lớn” ấy có thể khiến con người ta trở nên hùng dũng, dứt khoát đến mức: Chí lớn chưa về bàn tay không/ Thì không bao giờ nói trở lại/ Ba năm mẹ già cũng đừng mong... có thể thổi bùng cái chí khí của người trai để “Mẹ thà coi như chiếc lá bay, chị thà coi như là hạt bụi, em thà coi như hơi rượu say”, nhưng lại không thể ngăn được người buồn từ “chiều hôm trước”, buồn tới cả “sáng hôm sau”.

Nhà thơ Thâm Tâm có một số bài thơ nói tới ý chí và khát vọng lên đường, ngoài Tống biệt hành (1940), còn có Lưu biệt (1940), Tráng ca (1944), Vọng nhân hành (1944), thể hiện rõ con đường mà Thâm Tâm đã chọn là con đường cách mạng và niềm tin ở con đường đó. Vì niềm tin ấy, mới có: Giong đèn lưu luyến làm chi nữa/ Tôi quyết đi rồi, tôi phải đi!

Cháu nội của Thâm Tâm đã nhận ra chí khí ấy, con đường ấy trong bài bình luận của mình.

nguyen-my-trang.png(1).jpeg
Chị Nguyễn Mỹ Trang hiện nay (ảnh FBNV).

Bài bình của chị Nguyễn Mỹ Trang với bài thơ của ông nội, được ông Nguyễn Tuấn Khoa trân trọng lưu giữ như một kỷ vật về tình yêu của con cháu đối với ông nội - nhà thơ tài hoa thuở trước.

Chị Trang hiện là Tổng Giám đốc một doanh nghiệp lớn, là người đam mê khiêu vũ, từng là vận động viên dancesport vô địch Thế vận hội Trung niên 2025 và nhiều giải thưởng khác. Chị Trang còn có người anh trai (cháu đích tôn của nhà thơ Thâm Tâm) - là anh Nguyễn Tuấn Huy - chuyên gia bóng đá, gương mặt quen thuộc trong chương trình bình luận FIFA World Cup 2026 vừa qua.

TIẾN HUY
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Xúc động bài bình Tống biệt hành của cháu nội nhà thơ Thâm Tâm