Trong âm mưu trở lại xâm lược miền Bắc nước ta, trước hết thực dân Pháp phải chiếm được thành phố Hải Phòng trước khi tiến tới mục tiêu chủ yếu, mục tiêu cuối cùng là Hà Nội.
.jpg)
Pháp xác định Hải Phòng “không chỉ là buồng phổi kinh tế của Bắc Kỳ” mà còn là “một đầu cầu chiến lược không thể thay thế... thuận lợi tột bậc” để đánh chiếm Thủ đô Hà Nội.
Sau ngày đổ bộ lên Hải Phòng theo Hiệp định sơ bộ ngày 6/3, thực dân Pháp liên tục lấn chiếm, mở rộng phạm vi chiếm đóng. Từ tháng 7/1946, khi đã được tăng cường lực lượng, địch càng trắng trợn hơn.
Ngày 21/10, Bộ Chỉ huy quân viễn chinh Pháp ra Mật lệnh số 13.706 R/3S và ngày 30/10 lại ra tiếp Mật lệnh số 938.PC đánh chiếm Hải Phòng. Trước hành động khiêu khích và phá hoại của quân Pháp, quân, dân Hải Phòng một mặt tự kiềm chế, ráo riết chuẩn bị kháng chiến, đồng thời, liên tục tổ chức đấu tranh với địch để phản đối. Điển hình là các cuộc tổng bãi công, bãi thị, bãi khóa ngày 14/10/1946.
Ngày 15/10/1946, Cao ủy Pháp Đácgiăngliơ ra lệnh cho tướng Moóclie (Morlière), Tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Bắc bộ thiết lập quyền kiểm soát thuế quan tại cảng Hải Phòng. Quyết định này của thực dân Pháp vi phạm trắng trợn chủ quyền thuế quan và xuất nhập khẩu của Chính phủ ta, mở đường cho một chuỗi những sự kiện dẫn đến cái cớ gây chiến mà chúng mong đợi: “Sự kiện Hải Phòng”.
Trung tuần tháng 11/1946, quân Pháp gây liền mấy vụ khiêu khích nghiêm trọng, cố tạo ra cớ để tiến công. Ngày 19/11, chúng khám xét trái phép một tàu chở dầu của người Hoa ở bến Tam Kỳ đã nộp thuế nhập cảnh với chính quyền ta. Sáng 20/11, Tổng Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương Valuy (Valluy) ra lệnh cho Moóclie “phải nhanh chóng thiết lập quyền kiểm soát thuế quan tại cảng Hải Phòng”. 8 giờ cùng ngày, quân Pháp cho ca nô của hải quân đến bến Tam Kỳ định bắt chiếc tàu chở dầu của người Hoa đã bị khám xét từ hôm trước. Khi công an và thuế quan của ta can thiệp, quân Pháp liền xả súng bắn chết một chiến sĩ công an và 2 dân thường.
Sự kiềm chế của quân, dân Hải Phòng đến cái ranh giới tận cùng. Ủy ban bảo vệ thành phố phát lệnh: Chuẩn bị tác chiến. Đồng bào và các lực lượng vũ trang thành phố tuân theo lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ bấy lâu nung nấu lòng căm thù đối với quân Pháp xâm lược, nay được lệnh chiến đấu đã vùng bật dậy hăng hái xông ra đường, chặt cây, kéo đổ cột điện, dựng chiến lũy trong khí thế sôi động chưa từng có.
Nhiều trận chiến đấu ác liệt diễn ra ở Nhà ga, Trụ sở Đoàn công an xung phong, nhà Đốc lý, phố Bátti, làng Lạc Viên... Khi quân Pháp tiến công Nhà hát thành phố, ở đây có 17 chiến sĩ Vệ quốc Đoàn thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 89, Trung đoàn 41 do Trung đội trưởng Đặng Kim Nở chỉ huy. Ngoài ra còn có 22 chiến sĩ văn nghệ thuộc Đội Tuyên truyền văn hóa của Chiến khu 3 do đồng chí Nguyễn Văn Đạo phụ trách. Vũ khí chỉ có một khẩu tiểu liên Tômxơn (Thompson) và 16 khẩu súng trường Mútcơtông (Mousqueton). Bộ Chỉ huy quân Pháp nắm rất chính xác lực lượng ta trong Nhà hát thành phố.
Đại tá Debbes chỉ huy quân Pháp ở Hải Phòng quyết chiếm Nhà hát nên đã sử dụng 1 tiểu đoàn bộ binh và 2 tiểu đoàn xe tăng thiết giáp. Trong ánh chớp đạn nổ và tiếng rít của mảnh trái phá, trong khói bụi mù mịt những người con của thành phố cảng đã chiến đấu quyết liệt. Anh em động viên nhau giữ vững cửa chính, dùng súng trường tiểu liên,lựu đạn diệt từng tên địch, đánh lui nhiều đợt xung phong của chúng. Vừa bắn các anh vừa hô to các khẩu hiệu và hát vang các bài ca cách mạng.
Cuộc chiến đấu quyết liệt kéo dài cho đến chiều tối. Một trận đánh không cân sức, chênh lệch cả về lực lượng và hỏa khí, nhưng khiến cho quân Pháp hết sức kinh hoàng. Chúng không những không vào được Nhà hát mà còn bị thiệt hại nặng nề. Đến tối, địch phải tạm ngừng cuộc tiến công. Sáng 21/11, quân Pháp đưa thêm xe tăng thiết giáp, dùng pháo bắn vỡ cửa chính, rồi bọn lính lê dương hò hét xông vào. Sau một ngày đêm liên tục chiến đấu, vừa đói vừa khát, đạn dược đã cạn, các chiến sĩ phòng ngự ở tầng dưới chưa kịp rút lên gác thì bị địch ập vào chĩa súng bắt hàng. Trong trận đánh ấy, 13 chiến sĩ hy sinh, 8 đồng chí bị bắt do bị thương nặng, số còn lại rút được lên gác tiếp tục chiến đấu. Địch vẫn chỉ chiếm được tầng dưới.
Trước sự chống trả ngoan cường của các chiến sĩ ta trong Nhà hát, lại bị các lực lượng ta ở bên ngoài liên tục tấn công giải vây, nên ba ngày đêm tiếp sau kẻ địch vẫn không sao chiếm nổi tầng trên. Bên ta, các chiến sĩ cũng thương vong dần và hầu như không còn đạn. Sáng 24/11, sau khi đánh bật được lực lượng ta ở bên ngoài, quân địch ồ ạt xung phong lên gác, nhưng lại bị các chiến sĩ ta đánh hất xuống. Trận đánh của các dũng sĩ Hải Phòng trong Nhà hát thành phố diễn ra quyết liệt với tinh thần quả cảm phi thường. Quân Pháp với số quân đông, hỏa lực mạnh, đã chiếm được Nhà hát thành phố, nhưng cả quan lẫn lính đều bàng hoàng khiếp sợ và cảm phục tinh thần chiến đấu cũng như sức chịu đựng kỳ lạ của các chiến sĩ ta.
Tại Nhà ga Hải Phòng, trước thời điểm nổ súng, toán lính Pháp gác chung với bộ đội ta giả vờ được lệnh rút khỏi Nhà ga. Tiểu đội Vệ quốc đoàn ở Nhà ga tưởng thật bàn nhau tranh thủ rút về phố Tám Gian để ăn cơm. Lợi dụng tình hình đó, quân Pháp trở lại chiếm Nhà ga.
Khi phát hiện âm mưu của địch, tiểu đội lập tức quay trở lại và nổ súng xung phong chiếm lại Nhà ga. Địch rút lên tầng hai, gọi quân chi viện. Quân ta tuy ít người, nhưng vẫn tiếp tục vừa bao vây địch ở trên gác, vừa đánh trả quân tiếp viện của địch. Đúng lúc đó lực lượng tự vệ Khu 7 kịp đến chi viện, bắn cháy 1 xe tăng, 2 xe thiết giáp, bắt sống 5 tên, bao vây quân địch, tiếp tục chiến đấu giành lại Nhà ga.
Tại trụ sở Đoàn công an xung phong, quân Pháp cho một đại đội tăng cường thuộc Tiểu đoàn xung kích Viễn Đông có 2 xe tăng, 1 xe thiết giáp, dùng bọn thổ phỉ người Hoa đi trước dẫn đường theo đường vườn hoa Chéo qua phố Lê Quý Đôn và Đinh Tiên Hoàng hòng bất ngờ đánh chiếm. Tại đây, ta có một trung đội công an xung phong do Chính trị viên Nguyễn Xuân Sửu chỉ huy đã anh dũng chiến đấu, đánh lui nhiều đợt tiến công của địch.
Ở khu vực phố Bátti, địch sử dụng xe tăng, bộ binh, pháo binh và dùng xăng đốt dãy nhà ở đầu phố để khai thông con đường từ cầu Hạ Lý sang phố người Âu. Trung đội công an xung phong cùng tự vệ tiểu khu Lý Thường Kiệt dựa vào nhân dân và chiến lũy kiên cường chiến đấu giữ vững trận địa. Đội tự vệ Yết Kiêu (Khu 5) phối hợp với tự vệ hỏa xa tổ chức phá Cầu Quay (cầu xe lửa), không cho quân Pháp từ Thượng Lý tiến sang. Tự vệ Khu 6 và Khu 7 phối hợp với Đại đội 2 và Đại đội Ký Con (được điều từ Cát Bà về) bao vây quân địch trong Nhà ga giành giật từng bờ tường, từng toa xe với địch.
Ban đêm anh em đột nhập trèo lên mái Nhà ga, dỡ ngói ném lựu đạn xuống tiêu diệt bọn địch cố thủ, chặn đánh lực lượng địch tiến công hướng từ sân vận động Giơnô sang. Tự vệ Khu 10 - Cửa Cấm, Khu 11 - Đông Khê, Khu 12 - Gia Lạc Viên, dựa vào chiến lũy và làng Lạc Viên cùng bộ đội giữ vững mặt trận phía Đông thành phố, gây cho địch nhiều tổn thất. Tinh thần chiến đấu ngoan cường của quân, dân thành phố buộc bọn thực dân hiếu chiến Pháp ở Hải Phòng phải dốc toàn bộ lực lượng, dùng máy bay, xe tăng, đại bác đánh phá ác liệt tất cả các khu vực nội thành.
Trước tình hình cuộc kháng chiến ở Hải Phòng đã bùng nổ, để thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo và chỉ huy, ngày 26/11/1946, Chính phủ quyết định hợp nhất Hải Phòng - Kiến An thành Liên tỉnh Hải - Kiến. Theo chủ trương của Liên tỉnh ủy, tối 26/11, đại bộ phận các lực lượng vũ trang, các cơ quan đoàn thể được lệnh rút ra ngoại ô cùng nhân dân xây dựng phòng tuyến, bao vây ngăn chặn địch. Anh em công nhân được lệnh phá sập các nhà máy điện, phá ống dẫn nước, tháo dỡ máy móc, bí mật chuyển ra ngoại thành. Tất cả các công sở trong thành phố cùng một lúc được lệnh phá hủy. Nhiều gia đình tự thiêu hủy nhà cửa, tài sản của mình để đi tản cư. Sau khi rút khỏi nội thành, quân, dân thành phố vẫn tiếp tục chặn đánh địch ở ngoại vi. Nhiều trận đánh ác liệt diễn ra ở An Dương, Cầu Rào, Cầu Niệm, chùa Đồng Thiện, ngăn chặn các cuộc tiến công của địch ra ngoại thành.
Bảy ngày đầu kháng chiến ở Hải Phòng để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá cho quân và dân ta (đặc biệt là ở các đô thị) khi bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc. Bằng lòng dũng cảm, tinh thần quật cường bất khuất, quân, dân Hải Phòng tạo nên sức mạnh đương đầu với một kẻ địch mạnh, hung hãn và thiện chiến. Đó là sức mạnh của toàn dân tự vũ trang, toàn dân tham gia kháng chiến. Chính dựa vào sức mạnh đó, Hải Phòng sáng tạo nên nhiều cách đánh trong thành phố: phòng ngự, chốt giữ, phục kích, phản kích, tập kích, truy kích, nghi binh, bắn tỉa, phá hoại, quấy rối, triệt phá điện nước, giao thông, giành giật với địch từng ngôi nhà, từng góc phố. Thực hiện chủ trương kháng chiến lâu dài, ta đã bảo toàn được cơ quan lãnh đạo chỉ huy, tổ chức đưa gần 10 vạn dân tản cư an toàn ra các huyện ngoại thành.
Sau 7 ngày chiến đấu, ta đã lập các phòng tuyến bao vây quân địch hơn hai tháng không cho chúng mở rộng phạm vi chiếm đóng, không cho chúng tiến về phía Hải Dương, Hà Nội. Đặc biệt là địch đã không tiêu diệt được bất cứ đơn vị chủ lực nào của ta. Đây là một thắng lợi lớn được Bộ Quốc phòng đánh giá rất cao trong Hội nghị tháng 7/1947. Những bài học ở Hải Phòng đã được rút kinh nghiệm, vận dụng và nâng cao lên một bước mới khi chuẩn bị cuộc chiến đấu ở Hà Nội và các thành phố, thị xã diễn ra sau đó.
Đồng chí Võ Nguyên Giáp cũng nhận xét: “Cuộc chiến đấu ở Hải Phòng đã có tác dụng của một cuộc tổng diễn tập thực sự chuẩn bị cho trận đánh kéo dài nhiều ngày ở Thủ đô Hà Nội xảy ra sau đó một tháng”.
Theo cuốn sách "Lịch sử Hải Phòng" tập 3, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, xuất bản năm 2021