Để hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển vào năm 2045, Việt Nam cần tháo gỡ nhiều điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng và thương mại hóa sản phẩm.

Công nghệ sinh học đang được xác định là một trong những lĩnh vực công nghệ chiến lược có khả năng tạo đột phá cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển trên thế giới, nhiều chuyên gia cho rằng cần sớm tháo gỡ các hạn chế về thể chế, hạ tầng nghiên cứu và thương mại hóa sản phẩm.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 13/CT-TTg là bước đi kịp thời nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn trong phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, đồng thời cụ thể hóa các mục tiêu đã được đặt ra tại Nghị quyết số 36-NQ/TW và Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà cho rằng khoảng cách rất lớn giữa thị trường công nghệ sinh học của Việt Nam và thế giới phản ánh sự khác biệt về trình độ khoa học - công nghệ, năng lực thương mại hóa và mức độ đầu tư.
Theo ông, quy mô thị trường công nghệ sinh học toàn cầu năm 2025 ước đạt khoảng 1.800 tỷ USD, trong đó phần lớn giá trị tập trung ở các lĩnh vực công nghệ cao như dược sinh học, thuốc sinh học, sinh phẩm phục vụ nghiên cứu, chẩn đoán phân tử, giải trình tự gen và y học chính xác.
Các công nghệ tế bào gốc, liệu pháp gen và y học tái tạo dù chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhưng đang là nhóm tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Điều này cho thấy phần lớn giá trị của thị trường hiện nay nằm ở các công nghệ lõi có hàm lượng khoa học và giá trị gia tăng cao.
Các quốc gia dẫn đầu như Mỹ, Trung Quốc, các nước châu Âu, Nhật Bản và Hàn Quốc đã đầu tư liên tục trong nhiều thập kỷ để xây dựng hệ sinh thái công nghệ sinh học hoàn chỉnh, từ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng đến thương mại hóa sản phẩm. Riêng Mỹ hiện chiếm khoảng 40 - 45% thị trường công nghệ sinh học toàn cầu nhờ lợi thế về thuốc sinh học, vaccine mRNA, liệu pháp gen và liệu pháp tế bào.
Trong khi đó, dù GDP Việt Nam hiện đạt khoảng 500 tỷ USD, thị trường công nghệ sinh học mới chỉ đạt khoảng 1,5 tỷ USD, tương đương chưa đến 0,1% thị trường toàn cầu và chỉ đóng góp khoảng 0,2 - 0,3% GDP quốc gia.
Việt Nam hiện chủ yếu tham gia ở các lĩnh vực như vaccine truyền thống, vaccine thú y, vi sinh, sinh phẩm chẩn đoán cơ bản và nông nghiệp sinh học; chưa có nhiều sản phẩm công nghệ cao được thương mại hóa như thuốc sinh học thế hệ mới, liệu pháp gen hay liệu pháp tế bào.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà, một trong những hạn chế lớn hiện nay là đầu tư cho công nghệ sinh học chưa đồng bộ. Việt Nam còn thiếu các trung tâm nghiên cứu quy mô lớn, hệ thống phòng thí nghiệm hiện đại đạt chuẩn GLP, GMP, các trung tâm nghiên cứu tiền lâm sàng, lâm sàng cũng như cơ sở sản xuất thử nghiệm để chuyển kết quả nghiên cứu thành sản phẩm thương mại.
Bên cạnh đó, hành lang pháp lý và cơ chế quản lý chưa theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ. Nhiều lĩnh vực như chỉnh sửa gen, liệu pháp tế bào, liệu pháp gen hay y học tái tạo vẫn chưa có cơ chế cấp phép hoặc mô hình triển khai phù hợp. Điều này dẫn tới tình trạng nhiều người Việt phải ra nước ngoài tiếp cận các công nghệ điều trị tiên tiến, kéo theo hiện tượng "chảy máu ngoại tệ" trong lĩnh vực y tế.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà, công nghệ sinh học Việt Nam hiện đang đối mặt với ba nhóm điểm nghẽn chính.
Thứ nhất là hành lang pháp lý và cơ chế quản lý chưa theo kịp thực tiễn phát triển công nghệ. Nhiều lĩnh vực mới như chỉnh sửa gen, liệu pháp tế bào, liệu pháp miễn dịch, thuốc sinh học, y học tái tạo và sinh học tổng hợp vẫn thiếu quy định cụ thể để triển khai nghiên cứu và thương mại hóa.
Thứ hai là hạn chế về hạ tầng nghiên cứu và sản xuất đạt chuẩn quốc tế. Việt Nam còn thiếu các trung tâm nghiên cứu tiền lâm sàng, phòng thí nghiệm trọng điểm đạt chuẩn GLP và cơ sở sản xuất đạt chuẩn GMP phục vụ phát triển thuốc, vaccine và các sản phẩm sinh học công nghệ cao.
Thứ ba là thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao và thiếu doanh nghiệp nội địa đủ năng lực làm chủ công nghệ lõi. Nhiều kết quả nghiên cứu vẫn dừng ở quy mô phòng thí nghiệm, chưa được chuyển hóa thành sản phẩm thương mại có khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Để tháo gỡ những điểm nghẽn này, Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà cho rằng cần tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý phù hợp với xu hướng công nghệ mới của thế giới; đầu tư trọng điểm cho hạ tầng nghiên cứu, đặc biệt là hệ thống phòng thí nghiệm đạt chuẩn GLP và cơ sở sản xuất thử nghiệm đạt chuẩn GMP; đồng thời xây dựng cơ chế đủ mạnh để hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tiếp nhận, giải mã và làm chủ công nghệ.
Theo vị chuyên gia, để đạt mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển trên thế giới, cần xây dựng lộ trình phát triển dài hạn, gắn nghiên cứu với thị trường và nhu cầu thực tiễn.
Trong đó, Việt Nam cần ưu tiên đầu tư xây dựng các trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ sinh học đạt chuẩn quốc tế; đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu trong các lĩnh vực mới như sinh học phân tử, công nghệ gen, tin sinh học, trí tuệ nhân tạo trong y sinh, công nghệ tế bào và y học chính xác.
Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà cho rằng Việt Nam có nhiều lợi thế đặc thù để phát triển công nghệ sinh học như nguồn dược liệu phong phú, đa dạng sinh học thuộc nhóm cao của thế giới, hệ sinh thái biển nhiệt đới và nguồn gen đặc thù của người Việt. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển các sản phẩm công nghệ sinh học mang bản sắc riêng và có khả năng cạnh tranh quốc tế.
Bên cạnh việc khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ sinh học, Việt Nam cũng cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý theo hướng linh hoạt, tiệm cận chuẩn mực quốc tế. Theo ông, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho các công nghệ mới như liệu pháp tế bào, chỉnh sửa gen, y học tái tạo hay y học chính xác là yêu cầu cần thiết để vừa bảo đảm an toàn vừa thúc đẩy nghiên cứu và thương mại hóa sản phẩm.
Trong thời gian tới, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam xác định tập trung phát triển các lĩnh vực có tiềm năng tạo giá trị gia tăng lớn như chế phẩm vi sinh sinh học, vaccine thế hệ mới, sinh phẩm chẩn đoán, sản phẩm y sinh phục vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng; đồng thời đầu tư dài hạn cho các công nghệ nền tảng như công nghệ Omics, sinh học hệ thống, trí tuệ nhân tạo trong sinh học, chỉnh sửa gen, liệu pháp tế bào, sinh học tổng hợp và y học chính xác.
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Chu Hoàng Hà, việc phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tăng cường liên kết giữa đào tạo, nghiên cứu và doanh nghiệp sẽ góp phần thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, đưa công nghệ sinh học trở thành động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới.
TT (tổng hợp)