Đời sống văn hóa

Đậm đặc không gian thờ cội nguồn ở Hải Phòng

MINH NGUYÊN 26/04/2026 10:00

Trên vùng đất cửa biển Hải Phòng, tín ngưỡng thờ Hùng Vương được gìn giữ qua nhiều thế hệ, hiện diện trong các đình, đền, miếu cổ kính và những lễ hội đậm đà bản sắc dân gian.

00:00

dinh-an-khoai.jpg
Đình An Khoái (xã Thanh Miện) thờ Vua Hùng.

Nhiều nơi lưu giữ dấu ấn Vua Hùng

Hải Phòng hiện còn khoảng 200 di tích đình, đền, chùa, miếu thờ hoặc phối thờ các nhân vật thời Hùng Vương, thể hiện chiều sâu của tín ngưỡng thờ cội nguồn trong đời sống văn hóa dân gian. Trong số đó, đình An Khoái (xã Thanh Miện) là một trong số ít di tích thờ trực tiếp Vua Hùng trên địa bàn thành phố.

Đình An Khoái không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của người dân địa phương mà còn lưu giữ những lớp trầm tích lịch sử gắn với thời kỳ dựng nước. Theo truyền thuyết, nước ta trải qua 18 đời Vua Hùng trị vì trong hơn 2.600 năm.

Tuy nhiên, nhiều học giả cho rằng “18 Vua Hùng” thực chất là cách gọi tượng trưng cho 18 chi, mỗi chi gồm nhiều vị vua kế tiếp nhau, cùng mang vương hiệu chung, bắt đầu từ Kinh Dương Vương, người được tôn là thủy tổ dân tộc.

Theo sử liệu, ông kết duyên với Long Nữ, sinh ra Lạc Long Quân, rồi đến thế hệ Âu Cơ sinh ra các Vua Hùng, mở đầu cho dòng dõi Lạc Hồng. Từ cách lý giải này, Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3 âm lịch không chỉ là ngày tưởng niệm các Vua Hùng mà còn mang ý nghĩa sâu xa là ngày tri ân cội nguồn dân tộc.

Tại đình An Khoái, dù không tổ chức lễ hội quy mô lớn, người dân thôn An Khoái vẫn giữ gìn nét đẹp truyền thống bằng việc mở cửa đình, thành kính dâng hương tưởng nhớ tổ tiên, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Ngoài ra, nhiều di tích khác còn phối thờ các nhân vật gắn với thời đại này như Tản Viên Sơn Thánh, Cao Sơn Đại Vương, Tiên Dung hay Bảo Phúc Đại Vương. Nhiều địa phương ở Hải Phòng còn tôn vinh các tướng lĩnh có công giúp Vua Hùng giữ nước. Tiêu biểu là đình Thượng Điện (xã Hùng Thắng), di tích được xếp hạng cấp quốc gia từ năm 1999.

Theo thần tích do Nguyễn Bính soạn vào năm 1572, đình thờ tướng Đại Lực, người đã hưởng ứng chiếu cầu hiền của Vua Hùng, đứng ra chiêu mộ nghĩa quân chống giặc Thục.

Từ vùng núi Hồng Lĩnh, ông đem quân ra Bắc, lập nhiều chiến công và truy đuổi giặc đến vùng Hải Dương xưa. Sau khi hoàn thành sứ mệnh, ông trở về quê cũ, nhưng dấu tích đồn binh được nhân dân lập đền thờ, tôn ông làm thành hoàng.

Câu chuyện về tướng Đại Lực không chỉ phản ánh tinh thần chống ngoại xâm mà còn cho thấy sự lan tỏa của tín ngưỡng thờ Hùng Vương từ trung tâm ra các vùng ven biển, đồng bằng.

Ngày nay, mỗi dịp lễ tiết, người dân địa phương vẫn thành kính dâng hương, tưởng nhớ công lao của vị tướng, qua đó giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ.

Ở khu vực đặc khu Cát Hải, đình và miếu Nghĩa Lộ cũng là nơi thể hiện tín ngưỡng thờ Hùng Vương và văn hóa biển. Di tích thờ Đức thánh Hùng Sơn, một nhân vật gắn với truyền thuyết chống giặc Ân thời Hùng Vương thứ 6.

Theo truyền thuyết, Hùng Sơn là chàng trai vùng biển, giỏi võ nghệ, thông thạo sông nước. Khi giặc Ân xâm lược, ông đã chiêu tập dân binh, lập đội thủy quân đánh chặn quân giặc từ hướng biển Đông Bắc.

Tín ngưỡng trong đời sống đương đại

den-hung-1-.jpg
Tín ngưỡng thờ Vua Hùng là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (ảnh tư liệu). Ảnh: THÀNH CHUNG

Điểm chung của các di tích trên là đều gắn với những nhân vật huyền thoại hoặc lịch sử thời Hùng Vương, phản ánh sự đa dạng trong hình thức thờ phụng: Từ các vị thần linh như Tản Viên Sơn Thánh đến các tướng lĩnh, anh hùng chống ngoại xâm.

Lễ hội Đền Hùng từ lâu trở thành một trong những sinh hoạt văn hóa - tâm linh quan trọng bậc nhất của dân tộc Việt Nam, kết tinh trong câu ca quen thuộc: “Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3”. Không chỉ là dịp tưởng nhớ công lao các Hùng Vương, lễ hội còn là biểu tượng thiêng liêng của tinh thần hướng về cội nguồn, gắn kết cộng đồng người Việt ở khắp mọi miền.

Ngược dòng lịch sử, từ thời Hậu Lê, việc thờ cúng các Vua Hùng chủ yếu do nhân dân địa phương duy trì. Đến thời Hồng Đức dưới triều Lê Thánh Tông, lễ hội Đền Hùng được nâng tầm thành quốc lễ, có sự tham gia của quan lại triều đình trong các nghi thức tế lễ.

Sang thời Nguyễn, vua Minh Mạng vừa cho rước bài vị các Vua Hùng về thờ tại kinh đô Huế, vừa tiếp tục sắc phong, duy trì việc thờ phụng tại Đền Hùng. Đặc biệt, đến năm 1917 dưới triều Khải Định, mùng 10 tháng 3 âm lịch chính thức được ấn định là ngày Giỗ Tổ, với nghi lễ tổ chức trang trọng, quy củ.

Bước sang thời kỳ hiện đại, tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không chỉ được bảo tồn mà còn được khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Ngày 6/12/2012, UNESCO chính thức công nhận tín ngưỡng này là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Đây không chỉ là sự ghi nhận về giá trị văn hóa độc đáo, mà còn là minh chứng cho sức sống bền bỉ của đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, tinh thần đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam.

Thông qua lễ Giỗ Tổ hằng năm, một không gian văn hóa hội tụ được hình thành, nơi các giá trị truyền thống được tái hiện và lan tỏa. Từ những nghi lễ dâng hương trang nghiêm đến các hoạt động văn hóa dân gian phong phú, tất cả góp phần bồi đắp niềm tin, nuôi dưỡng bản sắc và gắn kết cộng đồng.

Sức lan tỏa của lễ hội không chỉ dừng lại ở Khu di tích lịch sử Đền Hùng mà còn mở rộng tới nhiều địa phương trong cả nước với lòng thành kính sâu sắc.

MINH NGUYÊN
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Đậm đặc không gian thờ cội nguồn ở Hải Phòng