80 năm đã qua từ ngày Bác Hồ lần đầu tiên về thăm, Hải Phòng đã bước vào một không gian và trình độ phát triển mới nhưng lời căn dặn của Người vẫn mang ý nghĩa thời sự sâu sắc.

Tại Hội thảo khoa học 80 năm ngày Bác Hồ lần đầu tiên về thăm Hải Phòng (20, 21/10/1946 - 20, 21/2026): "Dấu ấn - Hành trình - Khát vọng phát triển cùng đất nước", Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lý Việt Quang, Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã trình bày tham luận về chủ đề "Dấu ấn lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm Hải Phòng - Giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại".
Báo điện tử Hải Phòng giới thiệu toàn văn bài tham luận:
80 năm trước, tháng 10/1946, sau chuyến thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc. Sau khi dừng chân ở Cam Ranh (Khánh Hòa), chiều 20/10/1946, Người đến Cảng Hải Phòng và ở lại thành phố đến ngày hôm sau 21/10/1946 mới về Thủ đô Hà Nội. Đây là lần đầu tiên Người đến Hải Phòng. Trong thời gian ngắn lưu lại thành phố, Người đã để lại dấu ấn sâu sắc với Đảng bộ và nhân dân thành phố thông qua các hoạt động rất khẩn trương và đầy hiệu quả. Sau 8 thập kỷ, chuyến thăm vẫn mang giá trị lịch sử sâu sắc và có ý nghĩa thời sự đối với sự phát triển của thành phố Cảng hôm nay.
Chuyến thăm Hải Phòng tháng 10/1946 là lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp đến Hải Phòng, song sự quan tâm của Người đối với thành phố và phong trào cách mạng nơi đây đã có từ nhiều năm trước.
Là cửa ngõ hàng hải đặc biệt quan trọng của Việt Nam, Hải Phòng cũng là nơi thể hiện sinh động, rõ nét mâu thuẫn gay gắt giữa chế độ thống trị của thực dân Pháp và nhân dân Việt Nam, nhất là những người dân lao động. Đây là nơi tập trung đông đảo công nhân, thủy thủ và các tầng lớp nhân dân lao động bị sự áp bức, bóc lột tàn bạo của chế độ thuộc địa. Từ những năm 1920, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã chú ý đến vị trí chiến lược của Hải Phòng, nơi cửa ngõ giao thông thuận lợi để đưa cán bộ, tư tưởng cách mạng, sách báo tiến bộ từ bên ngoài vào Việt Nam. Người quan tâm theo dõi và đề cập trong những bài viết về các cuộc đấu tranh của công nhân và những người lao động Hải Phòng trong những thập niên 20, 30 của thế kỷ XX.
Với sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh và sự hoạt động tích cực của các hội viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Hải Phòng trở thành một đầu mối tiếp nhận và chuyển tiếp các sách báo, tài liệu bí mật, trong đó tiêu biểu là báo Thanh niên, tác phẩm Đường Kách mệnh cùng các tài liệu cách mạng khác.
Với vai trò khai sáng và tiên phong của Người trong việc truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, trong đó có trọng điểm Hải Phòng, trên địa bàn thành phố, phong trào công nhân, phong trào đấu tranh yêu nước của học sinh, trí thức, tiểu thương và các giới nhân dân ngày càng phát triển và từng bước gắn kết với nhau.
Sau khi Đảng ra đời, các tổ chức đảng ở Hải Phòng đã lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh, mở rộng lực lượng và xây dựng cơ sở cách mạng. Bởi vậy, khi đặt chân lên đất Cảng năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với một địa phương mà Người đã sớm nhận thấy vị trí chiến lược và sức sống cách mạng.
Trong bối cảnh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa mới ra đời, nền độc lập non trẻ phải đối diện với tình thế hết sức phức tạp của thù trong, giặc ngoài, chính quyền cách mạng dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẩn trương thực thi những biện pháp củng cố, bảo vệ nền độc lập và ổn định đời sống nhân dân. Trong quan hệ đối ngoại, cùng với việc tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nỗ lực hoạt động, tìm mọi cách ngăn ngừa cuộc chiến tranh Pháp - Việt.
Cuối tháng 5/1946, Người nhận lời mời sang thăm nước Pháp với tư cách là thượng khách để tiếp tục tìm kiếm khả năng giải quyết bất đồng bằng thương lượng, tranh thủ sự đồng tình của nhân dân Pháp và dư luận quốc tế. Các cuộc gặp gỡ, đàm phán chưa thể tháo gỡ triệt để những vấn đề cốt yếu còn có nhiều khác biệt giữa hai bên, song Người vẫn kiên trì nỗ lực ngoại giao nhằm giữ gìn hòa bình, tạo thêm thời gian quý báu để xây dựng, củng cố đất nước về mọi mặt, chuẩn bị đối phó với âm mưu của những phần tử thực dân hiếu chiến.
Trong bối cảnh ấy, việc Hồ Chí Minh từ Pháp trở về đến Cam Ranh và ra Hải Phòng mang ý nghĩa vượt ra ngoài một chặng dừng trên hành trình từ Pháp về Hà Nội. Chiều 20/10/1946, chiến hạm Đuymông Đuyếcvin (Dumont d’Urville) đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh cập Bến Ngự, Hải Phòng.
Đại biểu Quốc hội, Chính phủ từ Hà Nội xuống cùng đại biểu Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và đông đảo nhân dân Hải Phòng đón Người. Tiếng còi báo tin Người về, cờ hoa trên bến cảng và những tiếng reo mừng tạo nên một thời khắc đặc biệt đối với thành phố. Đảng bộ và nhân dân Hải Phòng vinh dự được thay mặt nhân dân cả nước đón Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về.
Trong không khí phấn khởi, trang nghiêm, lễ đón trọng thể đã thể hiện tình cảm sâu sắc của nhân dân thành phố với Người và biểu thị mạnh mẽ ý chí, quyết tâm của dân tộc để bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc. Sau lễ đón, Chủ tịch Hồ Chí Minh về nghỉ tại trụ sở Ủy ban Hành chính thành phố lúc đó đang tạm thời đặt ở Trường Nữ học Minh Khai (quận Lê Chân). Tối hôm ấy, Người dự buổi chiêu đãi do chính quyền thành phố tổ chức, có sự tham dự của một số đại diện phía Pháp.
Trong những cuộc tiếp xúc như vậy, Người tiếp tục bày tỏ mong muốn hòa bình và sự hợp tác cùng có lợi cho nhân dân hai nước. Đó là sự nhất quán trong chủ trương đối ngoại của Người: kiên quyết giữ vững độc lập, chủ quyền của Việt Nam, đồng thời tận dụng mọi khả năng giải quyết bất đồng bằng biện pháp hòa bình.
Tình cảm nồng nhiệt của nhân dân Hải Phòng dành cho Chủ tịch Hồ Chí Minh còn được thể hiện tiếp tục sau lễ đón tiếp. Đồng bào tập trung trước nơi Người nghỉ lại để được gặp và chào mừng Người đã trở về Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đáp lại tình cảm ấy, cho mọi người biết Người đã trở về bình an và ân cần khuyên đồng bào nên nghỉ sớm. Chi tiết giản dị đó gợi lên một nét đặc sắc trong quan hệ giữa Người với nhân dân: trong lúc đang phải lo trách nhiệm của người đứng đầu Nhà nước trước vận mệnh dân tộc, Người vẫn quan tâm chăm lo cho đồng bào.
Sáng 21/10, Chủ tịch Hồ Chí Minh dậy sớm, đi thăm một số nơi trong thành phố. Thời gian Người lưu lại Hải Phòng không nhiều, nhiều công việc cấp bách đang chờ Người ở Hà Nội, nhưng Người vẫn muốn tận mắt quan sát đời sống địa phương. Người chú ý quan sát thực tế, đối chiếu việc làm với mục đích phục vụ nhân dân, từ đó chỉ ra những điều cần sửa, đặc biệt là bệnh hình thức. Người đã nhắc nhở một hoạt động chỉ có giá trị khi đem lại kết quả thực chất; việc huy động quần chúng phải phù hợp với đời sống, với nhu cầu của người dân và được quần chúng tự giác hưởng ứng.
Trong buổi sáng, Người gặp đại biểu nhân dân Hải Phòng, các tỉnh miền duyên hải, đồng bằng và các đại biểu từ Hà Nội xuống; tiếp xúc với đại diện các đoàn thể, thanh niên và báo chí. Qua những cuộc gặp gỡ ấy, sự quan tâm của Người trải rộng từ nhiệm vụ chung của đất nước đến trách nhiệm cụ thể của từng lực lượng. Người ân cần dặn các đại biểu các tầng lớp nhân dân Hải Phòng: “Các cụ đi trước làm gương, anh chị em đồng tâm hiệp lực thì chắc chắn thành phố Hải Phòng sẽ trở nên thành phố gương mẫu của nước ta”.
Với thanh niên, Người khích lệ tinh thần đoàn kết, học tập và công tác. Người ghi vào cuốn Sổ vàng của Trường huấn luyện thanh niên Tô Hiệu (Hải Phòng) dòng chữ:
“Thanh niên đoàn kết
Gắng học tập
Gắng công tác
Tiến lên!
Tiến lên!”
Với những người làm báo, Người lưu ý cách viết cần phục vụ yêu cầu đấu tranh ngoại giao trong hoàn cảnh phải tranh thủ thời gian hòa hoãn: “Báo không nên viết những lời lẽ cứng rắn quá, không có lợi cho việc ngoại giao, mà nên viết mềm mỏng để tranh thủ thời gian hòa hoãn... Đừng hạ thấp mình, cũng đừng nên chọc tức kẻ thù. Báo chí phải dựa vào những cơ sở pháp lý để làm lợi khí đấu tranh...”.
Lời nhắc đó cho thấy Người luôn gắn hoạt động tuyên truyền với nhiệm vụ chính trị và tình hình thực tế: việc bảo vệ lập trường của dân tộc đòi hỏi sự vững vàng về nguyên tắc, cùng sự thận trọng, sáng suốt trong phương pháp thể hiện.
Dấu ấn đặc biệt sâu đậm của chuyến thăm đầu tiên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến Hải Phòng là cuộc nói chuyện của Người với đông đảo các tầng lớp nhân dân thành phố tại khu vực vườn hoa bên sông Lấp. Trước đồng bào, Người nói về nỗi nhớ đất nước, nhân dân và niềm vui được trở lại Tổ quốc sau chuyến đi Pháp. Người bày tỏ: “Lúc tôi ra đi, tất cả đồng bào đều áy náy, không biết tôi đi thì công việc và sức khỏe của tôi ra sao! Trong bốn tháng hai mươi ngày, đồng bào nhớ tôi, và tôi cũng bốn tháng hai mươi ngày nhớ đồng bào. Bây giờ tôi về thì rất sung sướng được thấy Tổ quốc thân yêu, thấy đồng bào quý mến, tôi rất vui lòng”.
Lời nói mộc mạc ấy diễn tả tình cảm hai chiều giữa Người và nhân dân: sự lo lắng của đồng bào trong những ngày Người đi xa được đáp lại bằng nỗi nhớ, sự gắn bó và trách nhiệm của Người đối với đồng bào. Từ tình cảm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh hướng mọi người về nhiệm vụ phía trước. Người ghi nhận tinh thần đoàn kết, kỷ luật, sự ủng hộ Chính phủ và những cố gắng xây dựng đời sống mới của nhân dân thành phố và công tác chuẩn bị sẵn sàng kháng chiến.
Trách nhiệm ấy thuộc về cả cán bộ, đảng viên và nhân dân, trong đó trước hết là các cán bộ, đảng viên, bởi muốn quy tụ được tài dân, sức dân, của dân, người cán bộ, đảng viên phải nêu gương tiên phong trong công việc và cuộc sống. Lời khuyên đồng bào thực hành đời sống mới, ra sức kiến thiết đất nước cũng cần được hiểu trong hoàn cảnh khi ấy. Nền độc lập vừa giành được cần được bảo vệ không chỉ bằng ý chí. Nó cần một chính quyền hoạt động có hiệu quả, một xã hội có kỷ luật, nhân dân biết tương trợ nhau và mỗi người nỗ lực lao động, học tập, rèn luyện. Giữ nước và dựng nước, kháng chiến và kiến quốc vì thế phải gắn chặt với nhau.
Ngay giữa lúc nguy cơ xung đột tăng lên, Người vẫn nhấn mạnh nhiệm vụ kiến thiết, gây dựng nền tảng vật chất và tinh thần cho quốc gia độc lập. Rời Hải Phòng để trở về Hà Nội trong sự tiễn đưa lưu luyến của đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh kết thúc chuyến thăm đầu tiên đến Hải Phòng tuy thời gian ngắn, nhưng để lại dấu ấn sâu sắc. Các cuộc tiếp xúc, phục vụ nhiệm vụ đối ngoại, việc quan sát thực tế địa phương, đến cuộc nói chuyện trực tiếp với nhân dân và lời căn dặn về xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố gương mẫu của cả nước, về đoàn kết, kiến thiết cho thấy sự quan tâm của Hồ Chí Minh đối với Đảng bộ và nhân dân thành phố trong bối cảnh đất nước đang còn đứng trước đầy khó khăn, thách thức.
Trước hết, chuyến thăm có giá trị lịch sử ở chính thời điểm diễn ra. Tháng 10/1946, đất nước đứng trước thử thách gay gắt: phải kiên định nền độc lập vừa giành được, đồng thời tìm mọi khả năng giữ hòa bình và chuẩn bị cho những tình huống khó khăn hơn. Trong bối cảnh đó, chuyến về nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh dừng chân ở Khánh Hòa, rồi đến Hải Phòng đã củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Chính phủ và quyết tâm bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Chuyến thăm đồng thời cho thấy tầm nhìn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa độc lập, hòa bình và sức mạnh dân tộc. Người nỗ lực đối thoại nhằm tránh chiến tranh khi còn có thể, nhưng luôn tỉnh táo, sẵn sàng đối phó với âm mưu quay lại xâm lược của thực dân Pháp. Những lời Người nói với đồng bào Hải Phòng về đoàn kết, ủng hộ Chính phủ và ra sức làm việc đặt nhân dân vào vị trí trung tâm của sự chuẩn bị ấy.
Hòa bình muốn được giữ gìn cần có ý chí độc lập; ý chí độc lập muốn trở thành sức mạnh cần được thể hiện bằng sự đồng lòng và khả năng tổ chức của toàn dân. Bài học đó vẫn có ý nghĩa trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: kiên định lợi ích quốc gia - dân tộc, chủ động đối thoại, hợp tác, đồng thời củng cố thực lực và giữ vững sự thống nhất trong xã hội. Một giá trị khác của chuyến thăm là sự ghi nhận vị trí của Hải Phòng trong sự nghiệp chung của đất nước. Cảng biển, giao thông, lực lượng lao động và truyền thống đấu tranh của nhân dân tạo nên vị thế đặc thù của thành phố. Chính vị thế đó đòi hỏi Hải Phòng phải gắn sự phát triển của mình với nhu cầu của đất nước, phát huy lợi thế cửa ngõ giao lưu quốc tế, bảo đảm giữ vững độc lập, chủ quyền và an ninh.
Lời căn dặn xây dựng Hải Phòng thành thành phố gương mẫu là điểm hội tụ giá trị lịch sử và ý nghĩa thời sự của chuyến thăm. Ở thời điểm năm 1946, đó là sự động viên một địa phương giàu truyền thống cách mạng tiếp tục nêu cao đoàn kết, kỷ luật và trách nhiệm trước việc nước. Sau 80 năm, lời dặn ấy vẫn tiếp tục có sức cổ vũ động viên mạnh mẽ Đảng bộ và nhân dân thành phố, để bộ máy giải quyết công việc hiệu quả hơn; ý kiến người dân được lắng nghe và phục vụ tốt hơn; đời sống của nhân dân cả về vật chất và tinh thần ngày càng tốt đẹp hơn; kinh tế phát triển đi đôi với văn hóa, an sinh và bảo vệ môi trường; quốc phòng, an ninh ngày càng được bảo đảm.
Đặc biệt, tư tưởng đoàn kết và nêu gương trong lời dạy của Người cho thấy đoàn kết bền chặt phải dựa trên mục tiêu chung, sự tôn trọng nhân dân, trách nhiệm của cán bộ và khả năng phối hợp thực chất giữa các lực lượng, của mọi tầng lớp nhân dân. Nhìn từ phương pháp làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm, Hải Phòng còn có thêm một gợi mở quan trọng: phải thường xuyên đối chiếu chủ trương với thực tế. Người dành thời gian đi xem thành phố, tiếp xúc nhiều giới, nghe và quan sát trước khi đánh giá. Tinh thần ấy đặc biệt cần thiết khi địa phương thực hiện những mục tiêu phát triển lớn. Sau khi có đường lối đúng, kết quả phụ thuộc vào việc tổ chức thực hiện. Chống bệnh hình thức, theo ý nghĩa đó, là đòi hỏi thường xuyên đối với năng lực lãnh đạo và quản lý.
Kỷ niệm 80 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên đến Hải Phòng vì vậy không chỉ là việc nhắc lại sự kiện, hoạt động của Người. Giá trị sâu xa của sự kiện nằm ở những điều Người đã khơi dậy. Đó là ý chí, niềm tin vào nền độc lập; trách nhiệm với vận mệnh đất nước; sức mạnh của khối đại đoàn kết; sự gắn kết chặt chẽ giữa dựng nước và giữ nước; yêu cầu cán bộ phải nêu gương, sâu sát thực tế. 80 năm đã qua. Hải Phòng đã bước vào một không gian và trình độ phát triển mới, nhưng lời căn dặn năm xưa của Người vẫn mang ý nghĩa thời sự sâu sắc.
PV