Nội dung này được quy định tại Nghị định số 316/2026/NĐ-CP, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/2026.

Ngày 11/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 316/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 135/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 về chế độ tài chính đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước tại tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và tổ chức tín dụng có vốn nhà nước.
Nghị định này tập trung điều chỉnh quan trọng về tỷ lệ trích lập quỹ đầu tư phát triển, cũng như quy trình trích lập, sử dụng quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi đối với các tổ chức tín dụng có vốn nhà nước.
Đối với tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, Nghị định số 316/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 4 và khoản 5 Điều 22 Nghị định số 135/2025/NĐ-CP quy định cụ thể thứ tự phân phối phần lợi nhuận còn lại sau khi đã trừ các khoản theo quy định pháp luật.
Theo đó, đơn vị thực hiện trích 10% vào quỹ dự phòng tài chính cho đến khi quỹ này đạt mức tối đa không vượt quá 25% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng. Tiếp đó, tổ chức tín dụng trích không quá 40% vào quỹ đầu tư phát triển, đồng thời bảo đảm tổng mức trích vào quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ và quỹ đầu tư phát triển không vượt quá 50% theo quy định tại Điều 25 Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, với mức tối đa của quỹ đầu tư phát triển không vượt quá mức vốn điều lệ.
Việc trích quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi cho người lao động, người quản lý và kiểm soát viên được thực hiện theo kết quả xếp loại doanh nghiệp. Cụ thể: đơn vị xếp loại A được trích không quá 3 tháng lương thực hiện, xếp loại B trích không quá 2 tháng lương thực hiện, xếp loại C trích không quá 1 tháng lương thực hiện, còn các đơn vị không thực hiện xếp loại thì không được phép trích lập hai quỹ này.
Nhằm bảo đảm nguồn kinh phí khen thưởng và phúc lợi cho người lao động, khoản 5 Điều 22 quy định rõ trường hợp phần lợi nhuận còn lại sau khi trích lập quỹ đầu tư phát triển không đủ nguồn để trích lập các quỹ khen thưởng, phúc lợi theo mức quy định, tổ chức tín dụng được phép giảm trừ phần lợi nhuận trích lập quỹ đầu tư phát triển để bổ sung nguồn trích lập đủ các quỹ này, tuy nhiên mức giảm tối đa không vượt quá mức đã trích vào quỹ đầu tư phát triển trong năm tài chính tương ứng.
Đối với các tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ trên 50% đến dưới 100% vốn điều lệ, Nghị định số 316/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung điểm b và điểm c khoản 4 Điều 23, áp dụng tỷ lệ trích không quá 40% vào quỹ đầu tư phát triển và tuân thủ giới hạn không vượt quá 50% cho cả hai quỹ theo quy định của Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm quỹ đầu tư phát triển không vượt quá mức vốn điều lệ.
Việc trích lập quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi cho người lao động, người quản lý và kiểm soát viên tại các tổ chức tín dụng này được áp dụng theo nguyên tắc tương tự như đối với tổ chức tín dụng do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Bên cạnh đó, Nghị định sửa đổi khoản 7 Điều 23 quy định chi tiết về thủ tục chia cổ tức bằng cổ phiếu đối với các tổ chức tín dụng có vốn nhà nước từ trên 50% đến dưới 100% vốn điều lệ. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trách nhiệm lấy ý kiến thống nhất với Bộ Tài chính trước khi trình Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ chia cổ tức bằng cổ phiếu. Điều kiện để áp dụng hình thức này là tổ chức tín dụng phải đang hoạt động có hiệu quả dựa trên tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư vốn nhà nước, đạt kết quả xếp loại từ loại B trở lên trong hai năm liền kề trước năm xác định chia cổ tức dựa trên công bố của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đồng thời duy trì tỷ lệ nợ xấu ở mức dưới 3%.
Nghị định số 316/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/2026, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý, nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát dòng vốn nhà nước và bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người lao động, người quản lý tại các đơn vị.
HUY QUANG