Bộ tượng thờ Đức Thánh Trần cùng gia quyến là di sản mỹ thuật quý báu, góp phần làm nổi bật giá trị văn hóa, tín ngưỡng của di sản văn hóa thế giới Côn Sơn - Kiếp Bạc.

Đền Kiếp Bạc hiện đang tôn trí 5 pho tượng gắn với từng cung thờ. Hậu cung thờ tượng đức Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Cung cấm thờ tượng Nguyên Từ Quốc mẫu (phu nhân Hưng Đạo vương) cùng 2 người con gái là Đệ nhất Vương cô - Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng Thái hậu (vợ vua Trần Nhân Tông) và Đệ nhị Vương cô - Anh Nguyên Quận chúa (vợ danh tướng Phạm Ngũ Lão). Gian trung từ thờ tượng Điện súy Phạm Ngũ Lão.
Không chỉ là những nét mỹ thuật đặc trưng, phía sau những pho tượng này là câu chuyện văn hóa trong bối cảnh lịch sử đặc biệt, khi đất nước nằm dưới ách cai trị của thực dân Pháp.

Văn bia “Cung tu Vạn Dược linh từ” dựng năm Bính Ngọ niên hiệu Thành Thái thứ 18 (1906) tại đền Kiếp Bạc thông tin, pho tượng đức thánh Trần và phu nhân đúc năm 1902 với sự phát tâm công đức của gia đình ông Lê Văn Thược (người phố Nam Ngư, Hà Nội, sau về sinh sống tại Hải Phòng).
Các thư tịch còn lưu giữ cũng cho biết tượng thờ Phạm Điện súy cùng nhị vị vương cô được các tín chủ Nguyễn Thị Thịnh, Nguyễn Thị Mỹ cung tiến năm 1929 thời vua Bảo Đại.
Theo nội dung văn bia, Hàn Lâm viện Điển tịch Lê Văn Thược đến tuổi trung niên nhưng vất vả đường con cái, người vợ họ Nguyễn đến đền Dược Sơn (Kiếp Bạc) cầu đảo, phát tâm hành thiện. Từ đó, việc kinh doanh của gia đình ngày càng phát đạt, con cái đông đủ nên người. Bởi vậy, gia đình ông Thược đã “xin bỏ tiền của sửa sang, sắm sửa cho việc thờ cúng. Năm Ất Mùi, cung tiến trong đền một quả chuông đồng.
"Năm Nhâm Dần (1902), đúc tượng Đại Vương Trần Hưng Đạo bằng đồng, cao 4 thước 8 tấc 8 phân 7 ly, rộng 1 thước 3 tấc; tượng Thánh Mẫu bằng đồng, cao 4 thước 2 tấc, rộng 1 thước 1 tấc 5 phân, mỗi toà đều có áo mũ, cân đai, ngai ỷ đều bằng đồng... chi phí tổng cộng hơn 1 vạn đồng, đều là tiền riêng, không quyên góp một xu".

Theo Tiến sĩ Lê Duy Mạnh, Phó Trưởng ban Quản lý di tích Côn Sơn Kiếp Bạc, từ giữa thế kỉ XIX, đất nước bị thực dân Pháp xâm lược và đô hộ, nhiều cuộc khởi nghĩa, phong trào đấu tranh bùng nổ. Trong bối cảnh ấy, hình tượng Hưng Đạo Đại vương nhanh chóng trở thành điểm tựa tinh thần, có tác dụng cổ vũ tinh thần dân tộc bởi ông đã lãnh đạo quân dân nhà Trần 2 lần đánh đuổi giặc Nguyên - thế lực lớn mạnh bậc nhất thế giới trong thế kỷ XIII.
Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần phát triển khá mạnh, tập trung ở di tích Kiếp Bạc và lan tỏa rộng khắp nhiều địa phương trong cả nước. Bởi vậy, việc các tín chủ người Hà Nội cung tiến tượng đức Thánh Trần về đền Kiếp Bạc cũng theo trào lưu và sức lan tỏa của tín ngưỡng vào đầu thế kỷ XX.

Các pho tượng tại đền Kiếp Bạc được tạo tác theo dáng ngồi song thất trên ngai. Tượng Hưng Đạo vương có thần thái nghiêm nghị, tay trái cầm viên ngọc, đầu đội mũ Xung thiên, thân vận long bào có họa tiết “long vân đại hội”, tứ linh. Rồng trên áo có 5 móng. Nét y phục trên tượng đức Thánh Trần có nhiều điểm tương đồng với triều phục Hoàng đế nhà Nguyễn - có lẽ nhằm thể hiện danh hiệu “Cửu Thiên Vũ Đế” mà hậu thế suy tôn cho ngài. Nét tạo tác tượng Phạm Điện súy cũng tương đồng với tượng Hưng Đạo vương.
“Khác với các tượng đài hiện đại khắc họa Hưng Đạo Đại vương với hình ảnh võ tướng, mặc áo giáp, tượng thờ tại đền Kiếp Bạc thể hiện hình ảnh quan văn, có lẽ tương ứng với thời điểm Đức Thánh lui về Vạn Kiếp trí sĩ. Bức tượng mang ý nghĩa văn hóa, tâm linh nhiều hơn ý nghĩa quân sự”, Tiến sĩ Lê Duy Mạnh nhận định.
Tượng Nguyên Từ Quốc mẫu có gương mặt hiền từ phúc hậu, đầu đội mũ Phượng quan, thân mặc Phượng bào theo nét triều phục của hậu phi nhà Nguyễn. 2 tượng Vương cô có nét tạo hình tương tự nhưng nét diện thanh thoát, tay cầm quạt.

Bộ tượng thờ Đức Thánh Trần cùng gia quyến là những bảo vật quý giá, tiêu biểu cho nghệ thuật tạo hình tượng thờ thời Nguyễn. Trên mỗi pho tượng đều lưu dấu những biểu tượng văn hóa đầy ý nghĩa. Hai cánh chuồn trên mũ tượng Đức Thánh Trần có 2 chữ hán Nhật (日, mặt trời), Nguyệt (月, mặt trăng) - tượng trưng cho 2 yếu tố dương và âm. 2 chữ này ghép lại thành chữ Minh (明, ý nghĩa là ánh sáng).
"Điều này tương ứng với bức đại tự Âm Dương Hợp Đức tại nghi môn đền Kiếp Bạc - ca ngợi đức Hưng Đạo Đại vương - là sự hội tụ linh khí của âm - dương, trời - đất để tạo nên một thiên tài quân sự kiệt xuất, sau khi hiển thánh lại có quyền năng sát quỷ trừ tà, tiếp tục cứu dân độ thế”, Tiến sĩ Lê Duy Mạnh cho biết.
Qua những bức tượng tại đền Kiếp Bạc, từng đường nét tạo tác, trang phục, đồ án trang trí, hậu thế sẽ hiểu thêm về cách tôn vinh bậc Anh hùng dân tộc của cha ông. Những di sản ấy đã góp phần làm nên sức sống của tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần, tôn vinh những giá trị đặc sắc cho quần thể di sản văn hóa thế giới Côn Sơn - Kiếp Bạc.
Hơn một thế kỷ hiện diện tại đền Kiếp Bạc, những pho tượng đồng Đức Thánh Trần cùng gia quyến không chỉ là những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, mà còn là biểu tượng của đời sống văn hóa, tín ngưỡng được lưu truyền trăm năm.