Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Hải Phòng đang xây dựng dự thảo Quy định mức thu tiền sử dụng khu vực biển trên địa bàn thành phố giai đoạn 2026 – 2031.

Hiện nay, thành phố Hải Phòng đang triển khai nhiều dự án, định hướng phát triển có sử dụng khu vực biển như: phát triển hệ thống cảng biển quốc tế Lạch Huyện và Nam Đồ Sơn; các trung tâm logistics ven biển; phát triển du lịch biển chất lượng cao tại Cát Bà, Đồ Sơn; phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển tại quần đảo Cát Bà và khu vực bãi triều Tiên Lãng; nghiên cứu, thu hút đầu tư các dự án điện gió ngoài khơi; mở rộng các khu công nghiệp, khu kinh tế ven biển và các công trình hạ tầng giao thông, hàng hải, năng lượng có sử dụng không gian biển.
Việc xây dựng mức thu tiền sử dụng khu vực biển phù hợp với điều kiện thực tiễn của thành phố sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên biển; tăng cường trách nhiệm của tổ chức, cá nhân được giao khu vực biển; tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước để phục vụ công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên, môi trường biển và đầu tư phát triển kinh tế biển bền vững của thành phố là cần thiết. Do vậy, Sở Nông nghiệp và Môi trường xây dựng dự thảo quyết định quy định mức thu tiền sử dụng khu vực biển trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2026–2031 và đang xin ý kiến nhân dân vào dự thảo.
Quyết đinh quy định mức thu tiền sử dụng khu vực biển của tổ chức, cá nhân trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2026 - 2031 khi được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền giao khu vực biển để khai thác, sử dụng tài nguyên biển theo quy định.
Các tổ chức, cá nhân được giao khu vực biển để khai thác, sử dụng tài nguyên biển theo quy định tại Nghị định số 11/2021/NĐ-CP ngày 10/02/2021 của Chính phủ; cơ quan quản lý nhà nước, cấp có thẩm quyền giao khu vực biển; các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Các hoạt động sử dụng khu vực biển phải nộp tiền sử dụng khu vực biển được phân thành 6 nhóm theo mục đích sử dụng khu vực biển như sau:
- Nhóm 1: Sử dụng khu vực biển để nhận chìm (danh mục vật, chất được nhận chìm quy định tại Điều 60 Nghị định số 40/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo).
- Nhóm 2: Sử dụng khu vực biển để làm cảng biển, cảng nổi, cảng dầu khí ngoài khơi và các cảng, bến khác; làm vùng nước trước cầu cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, luồng hàng hải chuyên dùng, các công trình phụ trợ khác; vùng nước phục vụ hoạt động của cơ sở sửa chữa, đóng mới tàu thuyền, xây dựng cảng tàu vận tải hành khách; vùng nước phục vụ hoạt động nhà hàng, khu dịch vụ vui chơi, giải trí, thể thao trên biển; khu neo đậu, trú nghỉ đêm của tàu thuyền du lịch; khai thác dầu khí; khai thác khoáng sản; trục vớt hiện vật, khảo cổ.
- Nhóm 3: Sử dụng khu vực biển để xây dựng cáp treo, các công trình nổi, ngầm, đảo nhân tạo, xây dựng dân dụng và các công trình khác trên biển.
- Nhóm 4: Sử dụng khu vực biển để xây dựng hệ thống đường ống dẫn ngầm, cáp điện.
- Nhóm 5: Sử dụng khu vực biển để nuôi trồng thủy sản, xây dựng cảng cá.
- Nhóm 6: Sử dụng khu vực biển để khai thác năng lượng gió, sóng, thủy triều, dòng hải lưu và các hoạt động sử dụng khu vực biển khác.
Mức thu áp dụng tính thu tiền sử dụng khu vực biển đối với từng nhóm hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển thuộc địa phận hành chính thành phố Hải Phòng trong vùng biển 6 hải lý tính từ đường mép nước biển thấp nhất trung bình nhiều năm được quy định cụ thể như sau:
| Nhóm | Mức thu tiền sử dụng khu vực biển |
| Nhóm 1 | 20.000 (đồng/m3) |
| Nhóm 2 | 7.500.000 (ha/năm) |
| Nhóm 3 | 7.500.000 (ha/năm) |
| Nhóm 4 | 7.500.000 (ha/năm) |
| Nhóm 5 | 7.500.000 (ha/năm) |
| Nhóm 6 | 7.500.000 (ha/năm) |
Trường hợp trong cùng một khu vực biển có nhiều hoạt động sử dụng khu vực biển theo các mục đích khác nhau nhưng không xác định được diện tích riêng cho mỗi mục đích sử dụng thì áp dụng mức thu cao nhất trong số các mục đích sử dụng để tính tiền sử dụng khu vực biển trong khu vực biển được giao cho tổ chức, cá nhân.
Đối với những hoạt động sử dụng khu vực biển chưa có quy định mức thu tiền sử dụng khu vực biển cụ thể tại nhóm 6, khoản 1, điều này, UBND thành phố quyết định trong từng trường hợp cụ thể nhưng không thấp hơn 3.000.000 đồng/ha/năm và không cao hơn 7.500.000 đồng/ha/năm.
HUY THÀNH