'Đường về Mai Châu' kể về An, một họa sĩ trẻ từ thành phố đến bản Pom Coọng, Mai Châu để tìm cảm hứng sáng tác. Anh hòa mình vào cuộc sống của người dân, cùng họ làm việc và cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên bằng cả tâm hồn.

An nằm soãi chân ở một góc nhà sàn, không trải đệm. Gió mát. Ngọn gió thổi từ con suối ở đầu bản Poom Cọng về rười rượi mùi hương của đất, của núi rừng, của phấn nứa, phấn vầu bong lên những ngày đầu Thu. Bếp nhà nghi ngút khói. Nồi xôi của bà Xoan đã bắt đầu toả hương từ khi nãy. Loại xôi được nấu từ nếp dẻo của mùa lúa cũ còn sót lại, thơm phưng phức. Loại xôi này chỉ cần ăn kèm với muối vừng thôi cũng đủ no lòng, cũng trở thành nỗi nhớ niềm thương mà mỗi độ An về lại thành phố lại thấy trong lòng vấn vương thương nhớ.
Có tiếng bước chân nhịp nhàng trên cầu thang dẫn lối lên nhà sàn. An nhổm người dậy, vét gọn mớ tóc ra sau gáy, cuộn lại rồi nhìn ra. Ông Thường vừa từ trên rừng trở về, người còn sực nức mùi diệp lục ngấm vào áo, vào tóc. Trông thấy An, ông nhoẻn miệng cười để lộ mấy chiếc răng ngả vàng không đều nhưng vô cùng duyên dáng:
- Hôm nay không vẽ nữa à, hoạ sĩ?
An lắc đầu, cười.
- Vẽ mãi cũng mệt, bác ạ! Hôm nay cháu quyết định thư giãn, màu với cọ cũng cần nghỉ ngơi.
Ông Thường cười vang. Tiếng ông ồm ồm như tiếng suối.
- Ừ, thôi cứ thư giãn đi cháu ạ! Ở đây cháu thấy thoải mái chứ? Nhà bác rộng, bản Poom Cọng thì lành, núi rừng Mai Châu này thì mênh mông bất tận. Cháu muốn ở bao lâu cứ ở, bao giờ chán thì thôi!
An cười thay lời đáp. An không hiểu sao nhưng ngay từ khi đặt chân đến Mai Châu, An đã thấy lòng mình say trước miền đất điệp trùng núi, điệp trùng rừng, điệp trùng đá sắc này. Những ngày ở bản Poom Cọng, An sống trong tình yêu thương, sự cưu mang, đùm bọc của ông Thường, bà Xoan, của người trong bản. An biết ơn vì điều đó! Có lúc, An ngỡ mình cũng là người con của mảnh đất này, lớn lên từ đất này. Bởi thế, mặc dù chỉ mới ở đây có vài tháng trời, song trong An như có bóng hình của những dãy núi cao ngất, đỉnh núi như chạm cả bầu trời đỏ rực những buổi chiều mùa Hạ, có con suối Poom Cọng, có mái nhà sàn nghiêng nghiêng, có hình ảnh bà Xoan mỗi độ hoàng hôn buông thường ra ngồi ở cầu thang chải tóc đợi con về sum họp...
*
Từ ngày An đến bản Poom Cọng, ông Thường có thói quen ngồi xem An vẽ. Ông Thường lướt ánh mắt trầm ngâm qua bức canvas An vừa hoàn thành. Bức tranh tả thực từng vách đá xám, từng tầng lá rừng trùng điệp gợn sóng dưới ánh nắng chiều - một kỹ thuật dựng hình chuẩn xác và tỉ mỉ đến từng chi tiết. An quay sang phía ông Thường, khe khẽ hỏi:
- Bác thấy sao ạ?
Im lặng trong chốc lát, ông Thường nhấp một ngụm trà mạn đã nguội, rồi khẽ lắc đầu:
- Cháu vẽ giống cái ảnh chụp lắm, hoạ sĩ ạ! Đẹp đấy, nhưng rừng trong tranh của cháu... nó đứng yên.
An ngơ ngác nhìn lại tác phẩm của mình, rồi nhìn ông Thường. Ông lão người Thái vỗ nhẹ vào cột nhà sàn trầm mộc, ánh mắt nhìn ra khoảng xanh thẫm xa xăm nơi ranh giới giữa bản và rừng sâu:
- Rừng không chỉ có màu xanh với đá cứng đâu cháu. Rừng của người Thái biết thở, biết nói. Này nhé, cây tấu trên đồi đang giấu trong thân nó hàng ngàn giọt nước chờ mùa mưa; đám mây vờn trên đỉnh Pù Bin kia là hơi thở của đất ngấm qua lá mà thành; rồi tiếng côn trùng ri rỉ dưới gốc mây kia nữa... Rừng trong tranh cháu đẹp, nhưng nó thiếu cái nhịp đập bên trong. Cháu mới chỉ nhìn rừng bằng đôi mắt, chứ chưa nghe rừng bằng cái tai, chưa chạm vào đất bằng cái lòng của mình.
Lời nói của ông Thường rơi vào khoảng không tĩnh lặng của căn nhà sàn, trầm lắng như tiếng suối đêm, làm ngón tay đang cầm cọ của An bỗng khựng lại. Anh nhìn xuống bức tranh bỗng trở nên xa lạ, rồi lại nhìn ra thung lũng đang xào xạc gió Thu, chợt nhận ra mình đã mang tư duy của một người đứng ngoài để tô vẽ lên sự sống của núi rừng.
Ông Thường đứng dậy, vỗ vỗ vào vai An rồi lững thững bước xuống cầu thang nhà sàn, để lại An một mình giữa khoảng không đang ngập tràn sắc chiều. An buông cọ, bước ra sát ban công nhà sàn, phóng tầm mắt ra xa. Mai Châu lúc chiều tà hiện ra như một bức tranh thuỷ mặc đang chuyển màu chậm rãi. Dưới chân thung lũng, những thảm lúa mùa Thu đang độ chín tới trải dài như một tấm lụa vàng óng ả, uốn lượn mềm mại theo chân núi. Mùi thơm của lúa mới quyện với mùi khói bếp lam chiều từ những ngôi nhà sàn tỏa ra, lảng bảng đậu lại trên những mái lá cọ già. Gió từ phía vách đá Pù Bin thổi về mỗi lúc một lồng lộng. An nhắm mắt lại. An nghe thấy tiếng rì rào của những rặng tre dọc con suối Pom Coọng đang nương theo chiều gió, tiếng kêu lách cách của những guồng nước gỗ đang cần mẫn múc nước tưới cho đồng ruộng, và xa xa là tiếng mổ ngô chày khúc khắc vang vọng từ bản xa. Cả thung lũng như một sinh thể khổng lồ đang hít thở, nhịp nhàng và tràn trề nhựa sống.
An mở mắt nhìn lại lòng bàn tay mình, rồi nhìn ra vạt rừng xanh thẫm trước mặt. An chợt hiểu ra điều ông Thường nói. Bức tranh của An trước đó thật vô hồn vì thiếu đi cái xào xạc của gió, thiếu cái vị nồng nàn của đất sau mưa, và thiếu cả nhịp đập âm thầm của vạn vật đang nương tựa vào nhau mà sống. An chưa từng thực sự “chìm” vào Mai Châu, mà chỉ mới dừng lại ở việc ngắm nhìn như một du khách đi ngang qua.
*
Sáng hôm sau, An theo chân ông Thường lên rẫy. Trời vừa hửng sáng, sương giăng lảng bảng như những dải lụa mỏng quấn quanh đỉnh núi. Bước chân An nén xuống mặt đường đất còn ẩm ướt. Đi qua từng con ngõ nhỏ của bản Pom Coọng, An bắt đầu nhận ra một nhịp sống rất khác mà trước nay An chỉ vô tình lướt qua. Ông Thường đi đến đâu, tiếng chào hỏi lại rộn rã vang lên đến đó.
- Hôm nay dẫn họa sĩ đi làm cùng đấy à bác Thường?
Các bà, các chị đang lom khom gặt lúa sớm ngẩng đầu lên cười, nụ cười lấp lánh nếp nhăn dưới chiếc khăn piêu gập gọn trên đầu. Bác Thường vẫy tay, tiếng cười ồm ồm quen thuộc lại vang lên giữa cánh đồng. Bác dừng lại bên ruộng nhà chị Khay, xắn gấu quần nhảy xuống phụ kéo lại cái đập nước bằng tre vừa bị xô lệch sau trận mưa đêm. An chẳng ngần ngại, vứt gùi vẽ lên bờ, xỏ chân xuống bùn lạnh ngắt, cùng mọi người vần từng viên đá cố định lại dòng chảy...
Những ngày tiếp theo, An không còn ngồi thu mình trên nhà sàn nữa. An theo bác Thường đi khắp các góc bản. Khi thì giúp bác Khăm gia cố lại mái lá cọ trước mùa gió lớn, khi thì ngồi dưới gầm nhà sàn học bà Xoan cách phân biệt từng loại lá rừng dùng để nhuộm vải thổ cẩm. An nhận ra, sự gắn kết giữa con người nơi đây với thiên nhiên không nằm ở những triết lý xa xôi, mà hiện hữu ngay trong cách họ đối xử với nhau và với từng gốc cây, ngọn cỏ. Dần dần, An không còn là “họa sĩ từ thành phố về” như cái cách mà bọn trẻ con thường gọi nữa. Bọn trẻ con trong bản bắt đầu bám lấy An mỗi chiều để xem An vẽ, người già trong bản đi ngang qua lại ghé vào dúi cho An khi thì củ khoai nương lùi tro nóng hổi, khi thì chùm nhót chua lè vừa hái trên đồi. An cảm nhận được một luồng nhựa sống ấm áp đang chảy chầm chậm qua lòng mình, đong đầy những khoảng trống từng bị vắt kiệt nơi phố thị. An bắt đầu hiểu ra: muốn vẽ được cái hồn của núi rừng, trước hết phải sống bằng cái tình của con người nơi đây!
*
Một buổi chiều đầu Thu, khi nắng vàng như mật thong thả trải dài trên những mái nhà sàn, An ngồi xuống bên hiên nhà bác Thường. Khác với lần trước, An không còn vội vã đong đếm từng góc độ hay tỷ lệ trong bức tranh đang dần tượng hình bằng thứ màu hoá học. An để mặc cho gió Thu đưa hương lúa chín lướt qua ngón tay, để cho tiếng thoi đưa lạch cạch dưới gầm nhà sàn tự nhiên rơi vào từng nét cọ.
Bức tranh mới của An ra đời không chỉ bằng sắc xám của đá hay sắc xanh của lá rừng. Trong lòng khung gỗ ấy, núi rừng Mai Châu không còn đứng yên vô hồn. Nơi vách núi Pù Bin sừng sững, An điểm vào những vệt khói lam chiều uốn lượn mềm mại từ bếp nhà ai. Dưới thảm lúa uốn lượn như dải lụa vàng, anh không vẽ những gương mặt rõ nét, mà chỉ phác họa vài bóng dáng nhỏ bé đang nghiêng mình thu hoạch - bóng dáng bác Thường, chị Khay, những người đã dạy An biết yêu lấy từng tấc đất. An còn khéo léo phối chút sắc nâu trầm của củ chàm, sắc đỏ của đất nương, khiến bức tranh mang trọn vẹn hơi thở và mùi vị của thung lũng. Khi nét cọ cuối cùng dừng lại, bác Thường bước lên cầu thang, trên tay vẫn cầm chiếc gùi gỗ còn vương mùi lá tươi. Bác lặng lẽ đứng sau lưng An rất lâu.
Không có tiếng cười vang ồm ồm như mọi khi, bác Thường chỉ mỉm cười nhẹ nhõm. Bác đưa bàn tay chai sạn, thô ráp chạm nhẹ vào góc bức tranh còn chưa khô màu, rồi gật đầu bảo:
- Bức này... rừng... biết thở rồi, hoạ sĩ ạ!
An nhìn bác, rồi nhìn ra thung lũng Pom Coọng đang chìm trong hoàng hôn đẹp mê ly. Trái tim An bình yên đến lạ kỳ. An biết, An không chỉ vừa hoàn thành một bức tranh, mà đã thực sự tìm thấy một chốn thuộc về trong lòng núi rừng. Mắt An sóng sánh nước.
*
Ngày An chia tay Pom Coọng, sương sớm lảng bảng treo trên những ngọn tre, và mùi khói bếp nhà bà Xoan vẫn thơm nồng vị nếp mới. Đứng ở đoạn dốc đầu bản, An ngoái đầu nhìn lại. Bác Thường, bà Xoan và mấy đứa trẻ vẫn đứng ở chân cầu thang vẫy tay chào. Mai Châu không chỉ là một chuyến đi, không phải là một trạm dừng chân chữa lành chốc lát của một người lữ hành đô thị. Nơi đây đã trở thành một phần máu thịt, một khoảng xanh ngát mà An biết mình có thể trở về bất cứ lúc nào tâm hồn cần sự bình yên. An đã học được cách yêu rừng từ cách người Thái yêu từng gốc cây, học được cách sống chậm rãi và bao dung từ chính nụ cười chất phác của những con người nơi đáy thung lũng.
Chiếc xe lăn bánh rời xa Pom Coọng, uốn lượn qua những cung đường đèo mây phủ. Trong tiếng gió rì rào qua khe núi, An như vẫn nghe thấy tiếng thoi dệt lạch cạch dưới gầm nhà sàn, tiếng suối chảy thì thầm qua từng vạt đá, và tiếng bác Thường ồm ồm vang vọng: “Khi nào mệt hoặc thiếu ý tưởng, lại về đây, hoạ sĩ nhé!”.
An mỉm cười, khép nhẹ đôi mắt. An biết, dù sau này có đi đến đâu, trong tâm khảm An luôn có một Mai Châu biết thở, một Mai Châu vĩnh viễn xanh ngắt giữa lòng mình.
Truyện ngắn của HOÀNG KHÁNH DUY