Truyện ngắn 'Hành trình của yêu thương' của tác giả Mai Thị Trúc kể về cô giáo Nguyên, người từ thành phố lên dạy học ở điểm trường vùng cao Tả Phìn, nơi còn nhiều khó khăn và thiếu thốn.

Nguyên vốn quen với tiếng chim hót rộn ràng mỗi sáng ở Hà Nội. Vậy mà những buổi sáng đầu tiên ở Tả Phìn, khi mở mắt, cô chỉ nghe thấy tiếng gió rít qua kẽ ván, hơi lạnh buốt da và nỗi cô đơn choán lấy. Trời hãy còn tờ mờ sáng, nằm trên chiếc giường có những thanh gỗ cứng trong căn phòng trọ nhỏ, nhìn lên trần nhà, cô bỗng tự hỏi, liệu mình có đúng khi chọn con đường này không?
Mặt trời bắt đầu lên rọi những tia nắng vàng như mật, cùng lúc tiếng lũ trẻ nói cười rộn ràng vọng từ sân trường khiến cô bật dậy. Cẩn thận mặc chiếc áo len thật dày, Nguyên bước ra hiên nhà. Lũ học trò nhỏ của cô đang đợi cô ở trước cửa lớp. Hai mươi bảy đứa trẻ đang chạy nhảy trong sương sớm, miệng phà phà hơi khói trắng vì lạnh. Bất chợt mắt cô chạm phải những đôi chân trần dính đầy bụi bẩn, những chiếc áo mỏng tang, lòng cô quặn thắt.
Tiếng trống vừa điểm lên kết thúc buổi học, lũ học trò nhỏ, đứa thì cầm chiếc cặp lồng, đứa lại cầm túi bóng, trong đó là bữa cơm trưa của chúng. Những chiếc cặp lồng cũ kỹ, có chiếc nắp nhôm méo mó, loang lổ vì thời gian gỉ sét bào mòn. Nguyên đứng dưới gốc phượng già, tò mò nhìn các em mở cặp lồng ra.
Cô lại quặn lòng khi những chiếc cặp lồng chẳng có gì ngoài cơm trắng nguội lạnh. Có em còn mang theo cả mèn mén để ăn. Không có thịt, rau, trứng hay cá. Họa hoằn một vài em may mắn có hũ nhỏ đựng muối vừng, rắc vào cơm từng hạt nhỏ xíu. A Páo ngồi góc sân, nửa cặp lồng cơm nguội từ sáng, ăn với muối trắng chậm rãi, ngon lành.
Nguyên nhớ lại hộp cơm thời đi học của mình mẹ lúc nào cũng chuẩn bị đầy sợ cô đói. Hôm thì thịt kho tàu, canh sườn chua dọc mùng, rau cải, rau muống xào tỏi. Hôm lại cá kho, trứng đúc thịt, trứng rán ngải cứu, đủ loại. Cô nghĩ phải làm gì đó cho các em.
Sáng hôm sau cô dậy thật sớm, xuống chợ mua thịt lợn, trứng và một bó rau thật to. Người bán hàng nhìn cô, nở nụ cười hiền hậu: “Cô giáo mới lên Tả Phìn đúng không?”. Nguyên khẽ đầu, cười chào lại, rồi lấy tiền trong ví để trả. Loanh quanh mua chỉ từng đó mà hết sạch số tiền trong ví Nguyên dự phòng. Vì cô mới lên Tả Phìn lương cũng chưa có.
Cô lại tất bật về chế biến thức ăn, và trưa hôm đó, các học trò của cô được thưởng thức một bữa ăn ngon đúng nghĩa. Nguyên vui vô cùng. Lũ học trò cũng rất vui, hai mươi bảy đôi mắt như ánh lên niềm vui không thể tả. Giờ ăn trưa, các em xếp hàng múc canh, từng bàn tay nhỏ xíu cầm cặp lồng đợi chờ cô giáo chia thịt kho trứng.
Vậy là, đều đặn mỗi tuần Nguyên nấu một bữa ăn ngon cho các em. Nhưng rồi, thực tế đè nặng lên vai cô. Cô không thể nấu ăn như thế được mãi, cô vẫn cần có tiền để chi tiêu sinh hoạt. Nhưng mỗi lần nhìn các em mở cặp lồng ra chỉ có cơm trắng hay mèn mén Nguyên lại chạnh lòng.
Một chiều cuối tháng Mười Hai, khi đang dạy môn Toán, cô thấy A Páo ngả người ra bàn. Nguyên chạy lại, vội vàng xem xét tình hình, toàn thân em lạnh toát. Páo ngất xỉu, làm cô quýnh quáng, tim đập loạn xạ. Cô bồng lấy Páo chạy một mạch xuống trạm y tế, suýt nữa thì cả hai cô trò té ngã. Y tá Hùng khám xong, thở dài đánh thượt:
- Thằng bé suy dinh dưỡng nặng. Thiếu máu nên bị ngất xỉu.
Nguyên ngồi bệt xuống ghế thở dài, đợi Páo tỉnh trở lại.
Đêm đó, Nguyên không không tài nào ngủ được. Hình ảnh những chiếc cặp lồng lúc nào cũng chỉ có cơm trắng hay mèn mén cứ ám ảnh cô mãi. Cô quyết định phải làm điều gì đó để thường xuyên có những bữa cơm có thịt cho các học trò. Nguyên bật điện trở dậy, gõ những dòng tâm tư của mình lên mạng xã hội, về học trò vùng cao Tả Pìn, về cậu học trò A Páo sáng nay và đặc biệt là về những chiếc cặp lồng chỉ có cơm trắng, mèn mén.
Bài viết của Nguyên chạm đến lòng của bạn bè, người thân. Một người chia sẻ, rồi hai người, ba người… Bài viết viral (truyền nhanh) kinh khủng. Chỉ chưa đầy một tuần mà có hàng trăm tin nhắn gửi đến, người thì hỏi số tài khoản, người hỏi địa chỉ cụ thể để lập kế hoạch lên tận Tả Phìn tình nguyện. Nguyên đọc từng tin nhắn, từng bình luận vừa xúc động vừa bồn chồn lo lắng. Tiền có thể giúp một tháng, hai tháng. Nhưng sau đó thì sao? Chưa kể còn có thể có người dùng hình ảnh tình nguyện để trục lợi...
Rồi bất chợt Nguyên nhớ lại mảnh đất hoang phía sau trường. Đó là một mảnh đất khá rộng, nhìn cũng màu mỡ nhưng lại không ai trồng trọt. Sáng hôm sau cô tới gặp hiệu trưởng và xin ý kiến. Thầy hiệu trường gật đầu đồng ý. Cô đã nghĩ ra một hướng đi mới cho bữa cơm có thịt thay vì kêu gọi ủng hộ trực tiếp bằng tiền, cô kêu gọi mọi người ủng hộ hạt giống, phân tro và những dụng cụ làm vườn. Cô với các thầy cô trong trường và các em học trò cùng nhau tăng gia sản xuất.
Một tuần sau, Nguyên nhận được rất nhiều kiện hàng, gồm các hạt giống rau đủ loại, cả xẻng, cuốc…
Sáng thứ Bảy, Nguyên cùng hai mươi bảy học trò ra sau trường. Cỏ mọc um tùm, đất khô cứng vì nắng. Cô cầm cuốc, cuốc từng nhát khó nhọc, những bọng nước nổi lên bàn tay cô rồi vỡ ra đau rát. Nhiều lần cô định bỏ cuộc nhưng nhìn học trò nhỏ cô lại cố gắng. Đất làm xong rồi, đến việc gieo hạt, và chăm sóc cây. Có khu vườn nhỏ ai nấy cũng vui vẻ và chăm chỉ. A Páo sau khi khỏe lại cũng tích cực chăm vườn cần mẫn. Em lúc nào cũng đến trường thật sớm để tưới nước cho rau.
Mấy tháng sau trôi qua như một giấc mơ, những luống rau tươi tốt, xanh tươi và có thể thu hoạch. Nguyên cùng các em hái rau, rửa sạch dưới vòi nước, rồi xào với ít tỏi muối. Mùi rau thơm nức cả sân trường. Những đứa trẻ đứng quanh bếp, mắt không rời chảo rau.
Trưa hôm đó, Nguyên sẽ không bao giờ quên. Hai mươi bảy chiếc cặp lồng mở ra, vẫn là cơm trắng như mọi khi nhưng giờ đây mỗi em có một bát rau xanh non mơn mởn. A Páo gắp từng miếng rau cho vào miệng nhai, nụ cười không rời khỏi môi. “Rau chúng ta trồng ngon lắm cô à!”. Nguyên nhìn hai mươi bảy khuôn mặt rạng rỡ, nước mắt ứa ra.
Tháng sau, vườn trường có thêm cà chua đỏ mọng, hành xanh tươi, ớt xiêm nhỏ. Nguyên liên hệ với các hộ dân trong bản nuôi gà, lợn. Mỗi tuần, các em thu hoạch rau, đem bán cho bà con với giá ưu đãi, rồi mua lại trứng, thịt. Một chu trình tuy nhỏ, nhưng khá bền vững. Cô trò không còn phụ thuộc vào từ thiện bên ngoài nữa. Có những chiều, Nguyên ra vườn, ngồi bên luống rau, nhìn các em tưới nước. Lòng cô nhẹ nhõm.
*
Thời gian thấm thoát trôi, học trò của Nguyên đã lớn, những bữa có thịt được duy trì qua chu trình xoay lặp bền vững. Một ngày cũng vào mùa Đông, khi Nguyên đang ngồi trước những đám rau cải mèo tươi non, A Páo giờ đây đã là cậu học trò phổng phao, chạy lại dúi vào tay Nguyên một món quà:
- Em có quà tặng cô giáo ạ!
Nguyên cầm món quà, chưa biết bên trong có gì, mắt nhìn ngược lại A Páo. Chưa kịp hỏi thì A Páo lại giục giã:
- Cô mở ra đi cô.
Nguyên từ từ mở ra, thật bất ngờ bên trong hộp quà đó là một chiếc cặp lồng bằng nhôm mới cứng.
- Hôm cuối tuần rồi em về nhà theo mẹ lên rừng đi bẻ măng bán lấy tiền em mua cặp lồng tặng cô giáo ạ - A Páo thỏ thẻ.
Nguyên xúc động, ôm A Páo vào lòng. Nước mắt rơi xuống vai nhỏ bé của em, ướt đẫm. Cô nhớ lại trưa đầu tiên, hai mươi bảy chiếc cặp lồng chỉ có cơm trắng. Giờ đây, các em không chỉ có thức ăn, mà còn biết cách tự tạo ra thức ăn. Biết cho đi, biết yêu thương nhiều hơn. Đó mới là điều kỳ diệu nhất.
Chiếc cặp lồng giờ đây không còn là biểu tượng của sự thiếu thốn mà là niềm tự hào của Nguyên và những cô cậu học trò vùng cao, là chứng nhân của một hành trình, từ những chiếc cặp lồng trống đến những chiếc cặp lồng đầy ắp cả thức ăn lẫn tình thương.
Truyện ngắn của MAI THỊ TRÚC