Mục tiêu của Chính phủ là đến năm 2030 cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội nhiều tầng, bao phủ mọi người dân, được số hóa và bảo đảm mức sàn an sinh tối thiểu cho tất cả người dân.
.jpg)
Ngày 9/10/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà đã ký Quyết định số 1960/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ và các cơ quan về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ người yếu thế.
Kế hoạch đặt mục tiêu đến năm 2030 cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội nhiều tầng, bao phủ mọi người dân, được số hóa và bảo đảm mức sàn an sinh tối thiểu cho tất cả người dân. Đến năm 2045, hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam tiếp cận chuẩn mực của các nước phát triển có thu nhập cao. Khi đó, hệ thống có dịch vụ chất lượng, tài chính bền vững, quản lý minh bạch và có khả năng ứng phó nhanh trước các rủi ro. Sàn an sinh tối thiểu bảo đảm cho người dân được chăm sóc y tế thiết yếu và có thu nhập cơ bản; trẻ em có điều kiện để phát triển. Người trong độ tuổi lao động được hỗ trợ khi mất việc làm, mất sinh kế, khi sinh con, gặp tai nạn hoặc bị khuyết tật. Người cao tuổi được bảo đảm thu nhập và chăm sóc thiết yếu. Trên nền tảng đó, các tầng bảo hiểm bắt buộc, tự nguyện và bổ sung tiếp tục được phát triển, với sự tham gia của Nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng và gia đình.
Theo kế hoạch, an sinh xã hội gắn với gia đình và mối quan hệ giữa các thế hệ, bởi việc làm, thu nhập của cha mẹ ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện sống, sự chăm sóc và việc học tập của con cái. Hiệu quả của chính sách được đánh giá qua lợi ích thực tế đối với từng người dân, sự ổn định của gia đình và tương lai của thế hệ sau. Tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau” phải được thể hiện bằng kết quả cụ thể, có thể kiểm tra, giám sát. Mục tiêu đặt ra là không có người dân nào sống dưới mức tối thiểu mà không được phát hiện; không có trẻ em nào phải bỏ học vì nghèo; các gia đình gặp thiên tai được hỗ trợ kịp thời.
Kế hoạch nhấn mạnh an sinh xã hội cần có tầm nhìn dài hạn và tổ chức thực hiện hiệu quả. Nguồn lực cho an sinh xã hội không chỉ đến từ ngân sách nhà nước mà còn là trách nhiệm chung của cộng đồng, cùng với ý chí, nỗ lực của mỗi người dân. Bước đột phá quan trọng nhất không chỉ là tăng mức trợ cấp, mà là nâng cao năng lực của Nhà nước trong việc phát hiện, lắng nghe và hỗ trợ người dân kịp thời.
Để đạt được các mục tiêu trên, kế hoạch đề ra 10 nhiệm vụ, giải pháp để triển khai, thực hiện. Cụ thể: Nâng cao nhận thức về vai trò của chính sách an sinh xã hội trong hệ thống chính sách xã hội. Lập hồ sơ an sinh và bố trí đầu mối phục vụ người dân. Củng cố sàn an sinh, cải cách chính sách trợ giúp xã hội. Mở rộng bảo hiểm xã hội, xây dựng thị trường lao động bao trùm. Xây dựng hệ thống an sinh gắn với gia đình và các thế hệ. Phát triển kinh tế chăm sóc, chủ động ứng phó với già hóa dân số. Bảo đảm cơ hội phát triển công bằng cho trẻ em và người yếu thế. Nâng cao khả năng thích ứng với thiên tai, dịch bệnh và quá trình phát triển xanh. Đổi mới quản trị, tài chính và giám sát xã hội và xây dựng Chương trình hành động quốc gia về hiện đại hóa hệ thống an sinh xã hội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Về mở rộng bảo hiểm xã hội và xây dựng thị trường lao động bao trùm, kế hoạch yêu cầu hoàn thiện các gói bảo hiểm linh hoạt về mức đóng, thời gian đóng và cách thức tham gia, có hỗ trợ phù hợp cho người thu nhập thấp. Các cơ quan chức năng nghiên cứu, xác định trách nhiệm đóng góp của Nhà nước, người lao động và doanh nghiệp cung cấp nền tảng số như gọi xe, taxi công nghệ. Bảo hiểm tai nạn lao động và chế độ thai sản được mở rộng cho người lao động ở khu vực phi chính thức. Chính sách hỗ trợ người trong độ tuổi lao động phải gắn với đào tạo kỹ năng, tư vấn việc làm, cho vay vốn và kết nối với doanh nghiệp. Hiệu quả đào tạo được đánh giá qua kết quả có việc làm thực tế, không chỉ dựa vào số người tham gia học. Nhà nước có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp tuyển dụng người khuyết tật, người sau cai nghiện, người đã chấp hành xong án phạt tù và lao động lớn tuổi.
Bên cạnh đó, các địa phương thực hiện giới thiệu việc làm, hướng nghiệp cho người dễ bị tổn thương, người yếu thế; ưu tiên hỗ trợ người có hoàn cảnh khó khăn; thí điểm mô hình sinh kế cho hộ gia đình có người cao tuổi, người khuyết tật. Những đối tượng này được ưu tiên vay vốn với lãi suất ưu đãi để tạo việc làm, tăng thu nhập.
Về phát triển kinh tế chăm sóc và chủ động ứng phó với già hóa dân số, kế hoạch đề ra việc xây dựng chiến lược quốc gia về kinh tế chăm sóc, kết hợp y tế, phục hồi chức năng, công tác xã hội với chăm sóc tại gia đình và cộng đồng. Mạng lưới dịch vụ chăm sóc ban ngày, chăm sóc tạm thời, trợ giúp người khuyết tật, chăm sóc giảm nhẹ và hỗ trợ sức khỏe tâm thần được mở rộng. Bảo hiểm chăm sóc dài hạn được nghiên cứu thí điểm tại một số địa phương và đánh giá kỹ tác động tài chính trước khi nhân rộng. Nghề chăm sóc được chuẩn hóa; nhân viên công tác xã hội, điều dưỡng và người chăm sóc tại nhà được đào tạo và hưởng chính sách phù hợp. Kế hoạch đề ra việc xây dựng mô hình nhà xã hội chăm sóc người cao tuổi độc thân, cô đơn, không nơi nương tựa, bảo đảm không có người cao tuổi nào phải sống trong nhà tạm, nhà dột nát. Trạm y tế xã triển khai kịp thời việc chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám sức khỏe định kỳ và lập sổ theo dõi sức khỏe cho người cao tuổi. Nhóm đối tượng từ 75 tuổi trở lên được ưu tiên trước, sau đó từng bước mở rộng đến nhóm từ 65 tuổi trở lên. Người cao tuổi không có điều kiện đến cơ sở y tế được khám, chữa bệnh tại nhà. Các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và Trung ương phát triển khoa lão khoa. Bệnh viện tuyến cơ sở được phát triển để phòng ngừa khuyết tật, phát hiện sớm, phục hồi chức năng và hỗ trợ trẻ em phát triển toàn diện ngay từ những năm đầu đời.
HUY QUANG