Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã chuyển đổi mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân cho hơn 101,49 triệu người, tạo nền tảng nâng cao chất lượng phục vụ.

Với hơn 22,64 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội trong 9 tháng đầu năm 2026, mở rộng diện bao phủ an sinh tiếp tục là nhiệm vụ quan trọng của Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Trong đó, chuyển đổi số, chuẩn hóa dữ liệu và kết nối liên thông được xác định là những giải pháp then chốt nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, tạo thuận lợi cho người dân và tiếp cận nhóm lao động chưa tham gia chính sách.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam vừa thông báo đã chuyển đổi thành công mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân hoặc căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người trên phần mềm Thu và quản lý sổ, thẻ, đạt 99,17% tổng số người thuộc phạm vi chuyển đổi. Kết quả này tạo cơ sở thống nhất trong xác định thông tin cá nhân, hỗ trợ đối chiếu quá trình tham gia và giải quyết chế độ chính xác hơn.
Với đặc thù quản lý khối lượng dữ liệu lớn, liên quan trực tiếp đến quyền lợi của hàng chục triệu người, ngành bảo hiểm xã hội đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các quy trình nghiệp vụ. Dữ liệu định danh thống nhất giúp việc theo dõi quá trình đóng, hưởng thuận lợi hơn khi người lao động thay đổi nơi làm việc hoặc phương thức tham gia. Người dân cũng có thể tra cứu thông tin, kiểm tra quá trình đóng và theo dõi tình trạng giải quyết hồ sơ qua các kênh điện tử.
Quá trình chuyển đổi số của ngành ghi nhận bước tiến từ tháng 11/2020, khi ứng dụng VssID - Bảo hiểm xã hội số ra mắt. Sau gần 1 năm, cả nước có hơn 23 triệu tài khoản giao dịch điện tử cá nhân trên VssID được đăng ký và phê duyệt. Đến tháng 9/2026, số tài khoản vượt 36 triệu. Ngành hiện có 28 hệ thống phần mềm cho phép xử lý toàn bộ quy trình nghiệp vụ trên môi trường số.
Toàn bộ dịch vụ công của ngành được cung cấp ở mức độ 4, tạo điều kiện để người dân và doanh nghiệp giao dịch liên tục 24/7 qua nhiều phương thức mà không cần trực tiếp đến cơ quan bảo hiểm xã hội trong giờ hành chính.
Mỗi năm, cổng giao dịch điện tử của ngành tiếp nhận và xử lý gần 100 triệu lượt hồ sơ. Quy mô này cho thấy vai trò thiết yếu của hệ thống số trong việc rút ngắn quy trình, giảm thủ tục và nâng cao hiệu quả phục vụ.
Hiệu quả chuyển đổi số còn thể hiện trong công tác chi trả. Trong kỳ chi trả tháng 10/2026, hệ thống bảo hiểm xã hội đã chi trả cho hơn 3,56 triệu người hưởng bảo hiểm xã hội hằng tháng, trong đó gần 96% nhận tiền qua phương thức không dùng tiền mặt. Toàn bộ người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức và trợ cấp thất nghiệp cũng đã nhận tiền qua tài khoản ngân hàng.
Từ tháng 5/2026, người dân được sử dụng sổ bảo hiểm xã hội điện tử để giải quyết chế độ và khi khám, chữa bệnh theo quy định, góp phần giảm giấy tờ trực tiếp. Việc bổ sung tài khoản hưởng an sinh xã hội trên VNeID cũng tạo nền tảng để người dân nhận các khoản chi từ ngân sách nhà nước như lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và các khoản hỗ trợ xã hội theo hướng trực tiếp, minh bạch.
Theo chiến lược phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, ngành đặt mục tiêu tỷ lệ hồ sơ dịch vụ công trực tuyến đạt tối thiểu 80% trong năm 2026; mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp đạt 95%; đồng thời bảo đảm 100% thủ tục đủ điều kiện được thực hiện không phụ thuộc địa giới hành chính.
Ngành cũng hướng tới hoàn thiện kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia, VNeID và Trung tâm dữ liệu quốc gia, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trong chi trả các chế độ. Mục tiêu không chỉ là đưa quy trình hiện có lên phần mềm mà còn tái cấu trúc nghiệp vụ, chuẩn hóa dữ liệu và đổi mới phương thức cung cấp dịch vụ công.

Bảo hiểm xã hội được xác định là 1 trong 2 trụ cột trung tâm trong hệ thống an sinh xã hội.
Bảo hiểm xã hội là một trong những trụ cột quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, giúp người lao động có nguồn bảo đảm khi gặp rủi ro như ốm đau, tai nạn, mất hoặc giảm thu nhập và khi về già. Trong bối cảnh Việt Nam đang già hóa dân số, mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội càng trở nên cấp thiết.
Dự báo đến năm 2030, Việt Nam có gần 18 triệu người từ 60 tuổi trở lên. Việc tăng số người tham gia bảo hiểm xã hội không chỉ nhằm hoàn thành chỉ tiêu mà còn góp phần bảo đảm thu nhập khi hết tuổi lao động, giảm nguy cơ người cao tuổi phải phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình hoặc trợ giúp xã hội.
Theo thống kê, năm 2025, cả nước có hơn 21,5 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tương đương 45,1% lực lượng lao động trong độ tuổi. Trong 9 tháng đầu năm 2026, số người tham gia tăng lên hơn 22,64 triệu, chiếm 46,7%. Trong đó, bảo hiểm xã hội bắt buộc đạt 20,05 triệu người, tăng 1,14 triệu so với năm 2025.
Dù số người tham gia tăng, độ bao phủ vẫn còn hạn chế. Nhóm chưa tham gia phần lớn là lao động tự do, lao động nông thôn, lao động thời vụ và người làm việc trên nền tảng số, như tài xế công nghệ, người giao hàng và người bán hàng trực tuyến.
Theo một khảo sát của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, hơn 90% lao động trên nền tảng số coi công việc này là nguồn thu nhập chính, nhưng chỉ khoảng 20% tham gia bảo hiểm xã hội. Trong khi đó, kinh tế nền tảng đang tạo ra khoảng 2 triệu việc làm, song nhiều lao động khó tiếp cận bảo hiểm xã hội thông qua doanh nghiệp và hợp đồng lao động.
Thực tế này đặt ra yêu cầu mở rộng khả năng tiếp cận chính sách cho những nhóm lao động có việc làm và thu nhập linh hoạt. Dự thảo sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội đang xây dựng các phương án mở rộng đối tượng tham gia, đặc biệt ở nhóm bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Trong quá trình đó, dữ liệu định danh và nền tảng thanh toán trực tuyến có thể hỗ trợ cơ quan quản lý nhận diện đối tượng, cải thiện việc tổ chức thực hiện và tạo thuận lợi để người lao động theo dõi quyền lợi của mình. Khi việc tham gia, đóng và tra cứu bảo hiểm xã hội trở nên thuận tiện hơn, chính sách có thêm cơ hội tiếp cận những người lâu nay chưa nằm trong hệ thống.
Đến năm 2030, ngành đặt mục tiêu có 60% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội, tương đương 29,33 triệu người; khoảng 45% lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Đồng thời, phấn đấu 60% số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu, bảo hiểm xã hội hằng tháng và trợ cấp hưu trí xã hội.
Để đạt các mục tiêu này, chuyển đổi số cần tiếp tục gắn với chuẩn hóa dữ liệu, kết nối liên thông và cải tiến quy trình nghiệp vụ. Đây là nền tảng giúp Bảo hiểm xã hội Việt Nam nâng cao tính chính xác, minh bạch trong quản lý, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận chính sách, đưa các quyền lợi an sinh đến gần hơn với người lao động.
TT (theo TTXVN)