Tranh phong cảnh của Phạm Trí Tuệ có cái độ trong và độ sáng của bầu trời quê anh, dù cảnh chim, hoa mùa xuân, ao sen mùa hạ...

Đêm trăng phố (1965) - Ký họa than của họa sĩ Phạm Trí Tuệ
Xem tranh của họa sĩ Phạm Trí Tuệ tôi bỗng nhớ đến lời giải nghĩa có ý vị văn chương của một học giả người Pháp vẽ vùng đất Hải Dương quê anh: "Hải Dương là ánh dương của miền duyên hải". Tôi cảm nhận tranh phong cảnh của Phạm Trí Tuệ có cái độ trong và độ sáng của bầu trời quê anh, dù cảnh chim, hoa mùa xuân, ao sen mùa hạ, hay bãi sông với rặng tre đằng ngà mùa thu, sắc độ của nắng và nước mây có thay đổi theo mùa. Khác hẳn với bức tranh anh vẽ khung cảnh làng kinh tế mới của người Hải Dương ở Tây Nguyên, nhà cửa cây cối chênh chếch trên một cái nền đen huyền, gợi không gian mênh mông màu huyền thoại.
Nước tranh của Phạm Trí Tụê đẹp như nắng, như lụa!Làng Vũ La có quốc lộ 5 ngang qua, kề bên sông Thái Bình, phía bên kia cầu Phú Lương là thành phố. Nhưng dân làng chân chỉ nghề nông nên nghèo. Nhà có năm anh chị em, là con út, Phạm Trí Tụê mồ côi mẹ khi mới lên ba, đúng cái năm đói Ất Dậu 1945. Nếu nói có duyên nghiệp, thì cái cơ duyên đưa Phạm Trí Tuệ đến với nghệ thuật hội hoạ cũng diễn ra ngay tại chùa làng. Đó là một buổi sáng mùa hạ năm 1958, một tốp người ăn mặc kiểu người thành phố đi vào sân chùa, trên đầu ai cũng đội cái nón loại nhỏ của trẻ chăn trâu vẫn đội, trông rất ngộ. Đó là những văn nghệ sĩ từ Hà Nội về thâm nhập thực tế và lao động ở Hợp tác xã Vũ La, hồi ấy là điển hình về phong trào làm ăn tập thể của tỉnh. Người thanh niên dẫn đầu khổ người cao to, trắng trẻo vồn vã chào hỏi và tự giới thiệu là Đào Vũ, nhà văn. (Sau chuyến đi này nhà văn Đào Vũ có tiểu thuyết "Cái sân gạch” và "Vụ lúa chiêm" nổi tiếng). Anh lần lượt giới thiệu với sư chùa những người cùng đi: Nhà thơ Tú Mỡ, hoạ sĩ Sĩ Ngọc, nhà thơ Hoàng Tố Nguyên, họa sĩ Đặng Đức, nhà viết kịch Xuân Bình. Khách vừa ngồi xuống ghế liền hỏi ngay: "Em Tuệ đâu? Tuệ đâu?". Tuệ nhút nhát đứng nấp cột bỗng giật mình. Thì ra các anh biết tên Tuệ là từ cán bộ của thôn khi hỏi thăm người nào đã viết khẩu hiệu, vẽ phóng tranh tường ở ngoài làng.
Từ đấy người thầy dạy hoạ đầu tiên của Phạm Trí Tuệ là hoạ sĩ Sĩ Ngọc, giảng viên Trường Mỹ thuật Hà Nội, là trường mỹ thuật duy nhất của miền Bắc. Ông chiêu sinh mở lớp dạy vẽ ở Vũ La . Buổi đầu có năm thanh, thiếu niên. Cậu nào cũng hăm hở, nhưng sau mấy tuần chỉ còn mỗi Tuệ. Anh trở thành chú “tiểu đồng” của hoạ sĩ danh tiếng, giúp ông pha màu, rửa bút, nhất là dẫn ông đi khắp nơi trong làng, ngoài đồng, thăm thú xem ngắm, vẽ tranh phong cảnh, đưa dẫn đến nhà tìm người mẫu vẽ chân dung. Trở về Hà Nội, hoạ sĩ Sĩ Ngọc vẫn viết thư động viên Phạm Trí Tuệ tập vẽ, rồi năm sau giúp cậu thanh niên nghèo nhà quê tự tin thi đỗ vào Trường Mỹ thuật Hà Nội. Tại đây, từ trung cấp lên cao đẳng, anh đã được đào tạo bài bản với sự hướng dẫn của thầy Sĩ Ngọc cùng những họa sĩ nổi tiếng đã trưởng thành từ Trường Mỹ thuật Đông Dương, như Lương Xuân Nhị, Trần Đình Thọ, Nguyễn Văn Tỵ… Kỷ niệm thấm thía nhất là vào năm thứ tư của khoá cao đẳng, giáo sư Lương Xuân Nhị xem những bài vẽ tập của Tuệ nhận thấy sức học của anh sút giảm. Ông lo lắng hỏi: "Do tôi dạy, hay em có điều gì? Tuệ phải thành thực: “Em không… ăn sáng nên không có ruột bánh mỳ để tẩy tranh". Chả là vẽ chì than phải dùng ruột bánh mỳ để tẩy sửa và chấm sạch bụi than. "Trời ơi!" - giáo sư Nhị thốt lên. Và từ hôm sau ông mang đến lớp hàng chục cái bánh mỳ để cho Tuệ và một số học sinh khác ăn sáng và lấy ruột tẩy tranh. Kết thúc khoá học, tác phẩm tốt nghiệp là bức tranh màu nước "Hồ phân rễ mạ" của Phạm Trí Tuệ được chọn trưng bày triển lãm và được đưa vào Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Bức tranh thể hiện dáng dấp sinh động của mấy nữ xã viên và những bó mạ xanh non được nhúng rễ hồ phân (một biện pháp kỹ thuật thời ấy) bên cánh đồng đang vào vụ cấy.
Ra trường, lớp hoạ sĩ như Phạm Trí Tuệ không được như các thầy chuyên tâm sáng tác tranh nghệ thuật mà phải làm đủ các công việc theo yêu cầu công tác. Anh vẽ tranh ký hoạ, tranh chân dung, dựng tranh lên hoàn khổ lớn…. Vẽ trên lụa, sơn dầu, sơn khắc, thuốc nước… anh đều sử dụng chất liệu chắc tay, tinh nghề, khám phá bí quyết vẽ chồng màu, sử dụng màu nguyên của nghệ thuật dân gian truyền thống. Năm mới ra trường anh cũng làm việc với họa sĩ Tấn Lộc ở Công ty Mỹ thuật Hà Nội, chuyên vẽ các loại tem phiếu như phiếu vải, phiếu gạo, nhãn hiệu thuốc lá, rượu, xà phòng… Ông Tấn Lộc quý Tuệ nên khuyên anh đã có tài vẽ tranh cổ động tuyên truyền nhưng cũng cần nắm chắc ngón nghề của mỹ thuật ứng dụng để làm kế sinh nhai giúp đỡ vợ con!
Giữa thời kinh tế bao cấp, chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ngày càng mở rộng, Phạm Trí Tuệ xin chuyển về công tác ở Ty Thông tin Hải Dương. Một vận hạn đến với anh: Vợ anh thuộc diện phải giảm biên chế! Giảm biên chế đồng nghĩa với mất sổ gạo, không còn tem phiếu mua vải, mua thực phẩm theo giá cung cấp. Bấy giờ cả nhà gồm hai vợ chồng, hai con nhỏ chỉ trông vào tiêu chuẩn 15 cân gạo và lương tháng 50 đồng của anh. Phạm Trí Tuệ phải tự cứu mình bằng cách “vẽ chui” để kiếm tiền đong gạo chợ. Anh vẫn nói là “nhặt tiền” vì chỉ được trả vài ba đồng thù lao một cái bìa sách, hay một bức chân dung truyền thần, mười đồng một cái nhãn hiệu bia, bánh kẹo của xí nghiệp quốc doanh. Ở các tỉnh lẻ thời gian ấy tranh nghệ thuật của các hoạ sĩ vài năm mới được tuyển chọn đem treo ở triển lãm một lần, chả ai bỏ tiền mua tranh. Nhưng tranh tuyên truyền cổ động thì rất được mùa. Phạm Trí Tuệ trong số không nhiều hoạ sĩ vẽ tranh cổ động thành công cả về ý nghĩa, nội dung tuyên truyền và chất lượng nghệ thuật.
Thời đổi mới, hoạ sĩ Phạm Trí Tuệ còn là nhà tư vấn có uy tín cho nhiều doanh nghiệp xây dựng thương hiệu sản phẩm. Đặc sản bánh đậu xanh, bánh khảo "Rồng Vàng Hải Dương" một thời bung ra có tới ngót một trăm nhà sản xuất. Riêng hoạ sĩ Tuệ đã thiết kế, vẽ mẫu cho hơn bốn mươi nhà.
Dù một thời gian dài làm Phó Giám đốc Nhà Triển lãm - Thông tin rồi Phó Chủ tịch Hội Văn học - Nghệ thuật tỉnh nhưng hoạ sĩ Phạm Trí Tuệ vẫn lấy nghiệp vẽ làm trọng, mải mê sáng tạo. Bản chất khiêm nhường, chân chất, anh rất dị ứng với sự khoa trương hay bon chen danh lợi. Anh luôn nhớ lời cha: “Đức Phật dạy rằng, nếu đi đường chẳng may áo con vướng phải cành rào thì cũng chẳng vì bực mình mà bẻ gẫy cành rào, mà phải đưa tay gỡ áo ra…”.
Tranh nguyên bản và ảnh chụp tác phẩm của anh treo trong ngôi biệt thự nhà vườn được dựng ngay trên đất của tổ nghiệp ở giữa làng Vũ La. Đã nhiều năm công tác gần gũi với anh Tuệ, nhưng quả tình tôi vẫn thấy bất ngờ, có cảm giác bị ngợp trước thế giới màu sắc đa dạng, phong phú của anh. Cũng như tính người, nghệ thuật hội hoạ của Phạm Trí Tuệ không cố ý tạo những phá cách khác lạ hay chạy theo các trường phái nghệ thuật hiện đại. Anh chung thuỷ với phong cách nghệ thuật hàn lâm truyền thống. Xem tranh và những họa phẩm của Phạm Trí Tuệ có cảm giác nhẹ nhõm, náo nức như bước vào một vườn hoa đầy hương sắc đang tươi nở. Vẫn những loài hoa thân thuộc nhưng luôn say đắm ám ảnh ở sự mới mẻ, nhuỵ nhàng.
NGUYỄN PHÚC LAI