Giải đáp pháp luật

Nhận trợ cấp thôi việc rồi có còn được hưởng trợ cấp thất nghiệp không?

MINH THƯ 05/08/2026 09:00

Theo quy định của pháp luật, việc đã nhận trợ cấp thôi việc từ doanh nghiệp không ảnh hưởng đến quyền hưởng trợ cấp thất nghiệp từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

548146592_1212948097530231_1215838647250891843_n.jpg
Công nhân trong doanh nghiệp nghe thông tin về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Ảnh: THANH NGA

- Tôi sắp hết hạn hợp đồng lao động tại công ty tôi đã làm việc 22 năm, không có ý định tiếp tục ký hợp đồng lao động. Xin hỏi theo quy định tôi được nhận trợ cấp thôi việc, còn khoản trợ cấp thất nghiệp có được hưởng không?

NGUYỄN THỊ LÝ (phường Phù Liễn)

- Theo quy định tại điều 46 Bộ luật Lao động năm 2019, người lao động chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp sau đây sẽ được nhận trợ cấp thôi việc:

- Hết hạn hợp đồng lao động.

- Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

- Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

- Người lao động bị kết án phạt tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không thuộc trường hợp được trả tự do theo quy định tại khoản 5 điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

- Người lao động chết; bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.

- Người sử dụng lao động là cá nhân chết; bị tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.

- Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc UBND cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.

- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng theo quy định.

- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng theo quy định.

Tuy nhiên để được nhận trợ cấp thôi việc thì người lao động phải làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên.

Trợ cấp thôi việc được tính theo tiền lương ghi trong hợp đồng lao động, không phải lương cơ bản tối thiểu cũng không phải tổng thu nhập thực nhận.

Theo quy định tại khoản 3 điều 46 Bộ luật Lao động năm 2019, tiền lương dùng để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 6 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi nghỉ việc.

Điều này có nghĩa căn cứ tính không phải là lương cơ bản, cũng không phải toàn bộ tổng thu nhập thực nhận hằng tháng, mà là mức lương được ghi nhận cụ thể trong hợp đồng lao động. Khoản này thường bao gồm:

- Mức lương công việc/chức danh ghi trong hợp đồng.

- Các khoản phụ cấp lương được thỏa thuận là một phần tiền lương.

- Các khoản bổ sung xác định được mức tiền cụ thể, trả thường xuyên theo hợp đồng.

Ngược lại, các khoản như thưởng KPI, thưởng tháng 13, hoa hồng, hay phụ cấp xăng xe, điện thoại, cơm trưa..., nếu không được ghi trong hợp đồng thì đều bị loại trừ.

Căn cứ quy định tại khoản 1 điều 46 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về trợ cấp thôi việc như sau: "Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 điều 34 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, trừ trường hợp đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 điều 36 của Bộ luật này".

Theo đó, việc chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động sẽ dựa trên nguyên tắc: mỗi một năm làm việc người hưởng trợ cấp sẽ được nhận khoản tiền trợ cấp bằng một nửa tháng tiền lương tính hưởng trợ cấp thôi việc.

Căn cứ điều 38 Luật Việc làm năm 2025, để được hưởng trợ cấp thất nghiệp, người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật, đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ thời gian quy định và nộp hồ sơ trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày nghỉ việc.

Theo khoản 2, điều 16 Nghị định số 374/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp thì cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày người lao động hết thời hạn nhận quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp hoặc hết thời hạn thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng.

Như vậy, 2 khoản trợ cấp này được chi trả độc lập với nhau. Việc đã nhận trợ cấp thôi việc từ doanh nghiệp không ảnh hưởng đến quyền hưởng trợ cấp thất nghiệp từ quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

MINH THƯ
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Nhận trợ cấp thôi việc rồi có còn được hưởng trợ cấp thất nghiệp không?