Công nghệ cao xóa “chân lấm tay bùn”

Nông dân xã Khởi Nghĩa (huyện Tiên Lãng) chăm bón hoa cúc chi dùng chế biến dược liệu.
Nằm ngay khu cánh đồng bỏ hoang gần sông Lạch Tray, ngôi nhà mới chồng mộc hai tầng có diện tích mặt sàn khoảng 120 m2 của anh Lê Văn Huấn, sinh năm 1993, ở thôn Kiều Đông, xã Hồng Thái (huyện An Dương) khiến ai thăm cũng tưởng cơ ngơi anh Huấn dựng để ở. Song thực tế khiến mọi người “choáng” bởi ngôi nhà này dành cho… ngan ở. Không những được ở nhà tầng, đàn ngan nhà anh Huấn được hưởng chế độ chăm sóc khá “tiện nghi” với máy sưởi, quạt thông gió, hệ thống máng ăn tự động, nước uống tự động.
Anh Huấn chia sẻ: “Mô hình này tôi mới triển khai từ đầu năm 2019. Sau khoảng 3 năm nuôi ngan theo phương thức truyền thống, tôi nhận thấy cần thay đổi phương thức nuôi để hạn chế tốt hơn dịch bệnh, tiết kiệm chi phí, thời gian, bảo đảm hiệu quả kinh tế cao nhất”. Nghĩ là làm, từ học hỏi trên mạng, anh Huấn từng bước xây dựng mô hình. Tất cả các công đoạn chăm sóc ngan đều được điều khiển kết nối qua máy điện thoại thông minh, nên trung bình một ngày anh Huấn chỉ mất khoảng 2 tiếng để chăm sóc đàn ngan, không cần có mặt thường xuyên ở chuồng như trước đây. Đồng thời, tiết kiệm được chi phí thuê nhân công; hạn chế tối đa dịch bệnh phát sinh, bảo đảm vệ sinh môi trường chung quanh. Tuy thời gian thực hiện chưa lâu nhưng phương thức nuôi này bước đầu cho thấy hiệu quả.
Với anh Bùi Đức Duyên, sinh năm 1981, ở phường Văn Đẩu (quận Kiến An), ứng dụng công nghệ giúp hiện thực hóa những việc trước kia anh chưa từng nghĩ tới. Đó là trồng dưa trên tầng thượng, không cần đất, không phải chân lấm, tay bùn. 5 năm trước, khi đi lao động ở I-xra-en, thấy nước bạn có rất ít đất canh tác, nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn rất phát triển, hiệu quả cao nhờ ứng dụng công nghệ cao thôi thúc anh tìm hiểu. Trở về nhà, trên cơ sở nguyên lý trồng rau, quả theo phương pháp thủy canh, anh Duyên mày mò, chế tạo giàn trồng dưa thủy canh một cách tiết kiệm chi phí nhất. Anh sử dụng hệ thống ống nhựa Tiền Phong, đục lỗ để thiết kế bệ đỡ giá thể, thiết kế các đường ống dẫn nước pha dung dịch thủy canh để trồng dưa vân lưới và kim cô nương. Đồng thời, mua thiết bị cảm biến gắn vào hệ thống téc nước- máy bơm- ống dẫn và kết nối với điện thoại thông minh. Nhờ vậy, anh có thể điều khiển chu trình nước ra, vào của giàn thủy canh qua thông số hiển thị trên điện thoại.
Không còn trẻ như anh Huấn, anh Duyên, nhưng bài học ông Nguyễn Văn Đan, 67 tuổi, ở thôn Lai Hạ, xã Tân Dân (huyện An Lão) rút ra sau 10 năm nuôi gà là phải ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất. Qua không ít vụ thất bát, mất tiền, mất của, mồ hôi, công sức, ông Đan đầu tư xây dựng lại 2 dãy trại nuôi gà khép kín với quy trình tự động hóa. Ở trang trại nuôi gà của ông Đan, việc cho gà ăn, uống nước đều được lập trình, điều khiển tự động. Chỉ cần ấn nút trên bảng điều khiển phía ngoài trại nuôi, thức ăn, nước uống được tải đến tận máng ăn cho gà, theo định lượng, giờ giấc định sẵn. Từ ngày thực hiện mô hình này, các trại gà của gia đình ông Đan không phát sinh dịch bệnh. Đồng thời, tiết kiệm được nhiều chi phí, nhất là chi phí thuê công nhân. Nếu chăn nuôi thủ công, với quy mô trại từ 9.000 – 10.000 con/lứa/trại như gia đình ông phải thuê thêm 4-5 công nhân, với mức lương từ 4- 5 triệu đồng/tháng. Nhưng hiện nay, ông chỉ thuê thêm 2 nhân công lúc xuất gà, còn lại do ông cùng con trai làm. Như vậy, mỗi tháng gia đình ông tiết kiệm được khoảng 16-25 triệu đồng/tháng, chưa kể các chi phí phát sinh khác.
Đưa nông sản ra “thế giới phẳng”
Với anh Vũ Văn Tăng ở Lang Thượng, xã Mỹ Đức (huyện An Lão), để bán sản phẩm chăn nuôi của gia đình, giờ chỉ cần một cái nhấp chuột trên trang facebook cá nhân. Sản phẩm cũng không còn bị ép giá hoặc chật vật tìm nơi tiêu thụ như trước.
Nhớ lại, thời gian đầu mới lập nghiệp tại vùng bãi bồi ven sông, anh Tăng xây dựng trang trại tổng hợp nuôi cá cảnh, gà, ếch Thái Lan. Nhưng khi đến vụ thu hoạch, vợ chồng chật vật tìm nơi tiêu thụ. Bí “đầu ra”, sản xuất ách tắc. Một lần, xem chương trình khoa học kỹ thuật trên VTV1, anh được biết một số nông dân ứng dụng mạng Internet để quảng bá, giới thiệu nông sản. Ngay sau đó, anh Tăng mua máy tính xách tay, kết nối mạng, thiết lập trang facebook để liên kết các mối hàng qua mạng. Anh cũng cải tạo trang trại, thay đổi cơ cấu vật nuôi để có nguồn hàng phong phú. Anh Tăng chia sẻ: “Bây giờ gia đình không phải lo đầu ra cho sản phẩm như trước. Chỉ cần đưa thông tin lên trang facebook cá nhân, tôi nhận được yêu cầu của khách hàng để cung ứng sản phẩm”. Với cách làm này, trang trại của anh Tăng ngày càng “ăn nên, làm ra”, trừ mọi chi phí còn lãi 300-500 triệu đồng/năm.
3 năm trở lại đây, chỉ cần “hỏi” Google cụm từ “Na bở Liên Khê” là một loạt thông tin liên quan chỉ dẫn tới trang web và facebook của HTX dịch vụ nông nghiệp Liên Khê (huyện Thủy Nguyên). Trên đó, không chỉ có thông tin về giá cả, địa chỉ liên hệ, mạng lưới phân phối, còn có cả những bài viết, hình ảnh, clip giới thiệu quy trình trồng, chăm sóc na và một số sản phẩm khác của HTX như chuối, mít. Theo anh Nguyễn Văn Hùng, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc HTX dịch vụ nông nghiệp Liên Khê, nhờ cách làm này, mối hàng của na Liên Khê không chỉ giới hạn trên địa bàn thành phố mà “phủ sóng” khắp các tỉnh, thành phố khác trong cả nước. Hiện nay, ngoài trang facebook chung của HTX, nhiều hộ trồng na trong xã cũng lập trang facebook riêng để quảng bá, giới thiệu sản phẩm.
Thực tế cho thấy, không riêng sản phẩm của gia đình anh Tăng, các hộ trồng na ở Liên Khê, mà nhiều nông sản khác của Hải Phòng cũng đang được nông dân cập nhật trên các trang web, facebook. Cách làm này đang giúp nông dân Hải Phòng chủ động hơn trong việc tìm đầu ra cho nông sản, từ đó chủ động trong sản xuất để đạt hiệu quả cao./.
Minh Hương - Ảnh: Trọng Luân