Môi trường

Phân vùng chức năng nguồn nước - giải pháp quan trọng chặn đà ô nhiễm

BẢO CHÂU - MINH TÚ 23/02/2026 13:30

Trong năm 2026, thành phố Hải Phòng thực hiện việc phân vùng chức năng nguồn nước. Đây là giải pháp quan trọng nhằm chặn đà ô nhiễm nguồn nước mặt.

00:00

xu.ly.nuoc.jpg
Nước thải sinh hoạt cần được thu gom, xử lý tập trung trước khi thải ra môi trường mới ngăn chặn tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt. Ảnh: NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC THẢI VĨNH NIỆM

Những nguồn nước quá tải chất ô nhiễm

Rác thải ngập tràn cả trên bờ và trên mặt nước, nguồn nước trong kênh thường xuyên có màu đen, bốc mùi hôi thối. Đó là hình ảnh dễ thấy ở nhiều tuyến kênh, mương chạy qua khu dân cư trên địa bàn thành phố. Đáng lo, trong số này có khá nhiều tuyến kênh mương thuộc hệ thống sông cung cấp nguồn nước thô phục vụ sản xuất nước sạch của thành phố.

Đơn cử như hệ thống sông Đa Độ. Theo Công ty TNHH một thành viên Khai thác công trình thủy lợi Đa Độ, trên hệ thống hiện có “điểm nóng” ô nhiễm cấp bách. Đầu tiên là khu vực phường Phù Liễn, nơi toàn bộ nước thải từ các khu công nghiệp, hàng loạt bệnh viện lớn như Bệnh viện Nhi Hải Phòng, Bệnh viện Đa khoa Kiến An, Bệnh viện Lao, làng nghề và khu dân cư đang đổ thẳng vào kênh Đò Vọ, kênh Thắng Lợi. Lưu lượng xả thải rất lớn, nước thải đa phần chưa qua xử lý khiến các tuyến kênh này ô nhiễm nặng, nước đen đặc, hôi thối chảy trực tiếp vào sông trục chính Đa Độ.

Tiếp đó khu vực Cầu Nguyệt, nằm liền kề nơi lấy nước chính của Nhà máy nước cầu Nguyệt, nước thải sinh hoạt từ thôn Nguyệt Áng và khu dân cư Mỹ Đức (xã An Khánh) xả trực tiếp ra sông.

Trong khi đó, sông Giá và kênh Hòn Ngọc (thuộc địa bàn các phường Thủy Nguyên và Thiên Hương) đang phải tiếp nhận nước thải từ 29 cơ sở sản xuất, hai làng nghề làm bún và phần lớn khu dân cư qua 102 “cửa xả” tự do, không thể kiểm soát.

Kênh Bắc Nam Hùng, một nhánh sông Rế, nguồn cung cấp nước sinh hoạt chủ yếu cho các phường, xã khu vực nội đô ở Đông Hải Phòng. Theo thống kê của Công ty TNHH một thành viên Khai thác công trình thuỷ lợi An Kim Hải, con kênh này có tới 187 điểm xả, trong đó có 175 điểm xả là của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh, còn lại là điểm xả của các khu dân cư.

Theo khảo sát của Sở Nông nghiệp và Môi trường, các dòng nước chảy về sông, hồ đều mang theo các chất hữu cơ, vô cơ. Ở những điều kiện bình thường thích hợp, những chất đó kích thích sự phát triển của sinh vật. Nhưng nếu các chất bẩn quá nhiều, tạo thành lượng dư chất vượt quá khả năng đồng hóa của sinh vật và khả năng tự làm sạch của nguồn nước mặt. Khi đó, chỉ còn lại vi khuẩn phát triển, nguồn nước sông, hồ bị nhiễm bẩn.

Những nguồn nước “quá tải” chất ô nhiễm sẽ xuất hiện bùn trên mặt nước tạo thành váng màu đen, nước có màu xám đen và có mùi hôi thối. Đáng lo, trên địa bàn thành phố có nhiều nguồn nước mặt ở tình trạng “quá tải”, phải tiếp nhận nguồn nước thải chưa qua xử lý quá lớn, vượt quá khả năng tự làm sạch.

Phân vùng xả thải

o.nhiem.jpg
Mương thủy lợi đoạn qua xã An Trường, ngập tràn rác thải.

Từ thực tế trên, Sở Nông nghiệp và Môi trường tham mưu với UBND thành phố thực hiện các giải pháp phân vùng chức năng nguồn nước. Giải pháp này được tập trung thực hiện ngay trong năm 2026.

Theo đó, nguồn nước được chia thành 3 vùng. Vùng 1 bao gồm các sông trục chính, gồm: Kinh Thầy (dài 50 km), Kinh Môn (dài 45 km), Văn Úc (dài 68 km), Lạch Tray (dài 49 km), Bạch Đằng (Đá Vách) (dài 52 km) và các sông Bạ Mưu, Luộc và Thái Bình. Trên các sông này, cấp nước sinh hoạt là chức năng ưu tiên hàng đầu; tiếp đó phục vụ cấp nước sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, giao thông thủy, nuôi trồng thủy sản.

Vùng 2 có chức năng cấp nước thô cho nhà máy sản xuất nước sạch, tiêu thoát nước; cấp nước tưới cho nông nghiệp bao gồm hệ thống thủy lợi nội vùng và tiêu thoát hệ thống thủy lợi lớn Bắc Hưng Hải, An Kim Hải, Đa Độ, Thủy Nguyên, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo và các kênh nội đồng (kênh Chanh Dương, Hòn Ngọc, hệ thống trung thủy nông Tiên Lãng).

Vùng 3, đây là khu vực bảo vệ nghiêm ngặt, bao gồm các khu vực vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước sinh hoạt (ranh giới 800 - 1000 m về phía thượng lưu, 200 m về hạ lưu) bảo tồn, bảo vệ tuyệt đối chất lượng nước sinh hoạt.

Song song đó, thành phố triển khai việc đánh giá sức chịu tải nguồn nước. Theo đó, thành phố phấn đấu đến năm 2030, 100% các nguồn nước liên tỉnh được công bố khả năng tiếp nhận nước thải, sức chịu tải. Các địa phương cũng cần điều tra, đánh giá sức chịu tải của các sông, suối trên địa bàn. Cấp phép xả thải đối với những nguồn thải nước thải mới, ưu tiên chú ý đối với các nguồn nước được quy hoạch bảo vệ nghiêm ngặt.

Sở Nông nghiệp và Môi trường tham mưu UBND thành phố không phê duyệt thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc cấp giấy phép môi trường các dự án đầu tư mới xả nước thải trực tiếp vào nguồn nước không còn khả năng chịu tải (trừ trường hợp có phương án xử lý nước thải đạt quy chuẩn cao hoặc tái sử dụng). Việc khẩn trương thực hiện đánh giá sức chịu tải nguồn nước là rất cần thiết và cần được ưu tiên làm sớm, tránh tình trạng cơ sở sản xuất “tiện đâu xả đó” mà không tính đến sức chứa, khả năng “gánh chịu” của nguồn nước.

BẢO CHÂU - MINH TÚ
(0) Bình luận
Nổi bật
    Tin mới nhất
    Phân vùng chức năng nguồn nước - giải pháp quan trọng chặn đà ô nhiễm