1/2 Trang 5, ngày 16-5 VHNT chủ nhật CTV

17/05/2024 09:48

Bác Hồ – nguồn cảm hứng bất tận của điện ảnh

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là nguồn cảm hứng sáng tạo bất tận trong hầu hết các lĩnh vực nghệ thuật, từ âm nhạc, thơ ca đến nhiếp ảnh, điện ảnh, sân khấu, hội họa…Đặc biệt, những tác phẩm điện ảnh mới về Bác Hồ đã, đang được nghệ sĩ các thế hệ thực hiện, qua đó tôn vinh người Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, Danh nhân văn hóa thế giới – Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong nền điện ảnh nước nhà, từ những năm kháng chiến cứu nước gian khổ, tuy còn non trẻ và thiếu thốn, nhưng Việt Nam có những bộ phim tài liệu đặc sắc về Bác Hồ kính yêu. Trong đó, rất nhiều bộ phim tài liệu đặc sắc về Người như: “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch” (đạo diễn Quang Huy, 1960); “Bác Hồ sống mãi” (đạo diễn Nguyễn Quang Trung, Lại Văn Sinh, 1970); Chúng con nhớ Bác (đạo diễn Nguyễn Văn Thông, 1973); “Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh” (đạo diễn Phạm Kỳ Nam, 1974); “Những giờ phút cuối đời Bác Hồ, Bác đi chiến dịch” (đạo diễn Phạm Quốc Vinh, 1990); “Hồ Chí Minh- Chân dung một con người” (đạo diễn Bùi Đình Hạc, 1990)... đã được trình chiếu đến Nhân dân cả nước mỗi dịp kỷ niệm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5).

Cùng với phim tài liệu, nhiều phim truyện điện ảnh về Bác được các văn nghệ sĩ trong nước thực hiện. Năm 1990, phim “Hẹn gặp lại Sài Gòn” (đạo diễn Long Vân, kịch bản Sơn Tùng) ra mắt, trở thành một bộ trong những bộ phim xuất sắc nhất trong nhiều tác phẩm điện ảnh về Người và để lại dấu ấn cho khán giả đến tận hôm nay. Sau bộ phim trên, nhiều nhà biên kịch, đạo diễn bắt đầu tìm tòi thể hiện hình ảnh Bác với những gó độc khác nhau. Đạo diễn Nguyễn Khắc Lợi và Viên Thế Kỷ đưa lên màn ảnh câu chuyện “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông”, trong khi đó đạo diễn Vũ Châu làm “Nhìn ra biển cả” tái hiện một giai đoạn ngắn khi Bác làm giáo viên thể dục tại Trường Dục Thanh (khoảng năm 1910-1911).

Sau đó, đạo diễn Vương Đức làm phim “Nhà tiên tri”, khắc họa hình ảnh Bác trong những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ. Đạo diễn Bùi Tuấn Dũng cũng để lại dấu ấn đậm nét khi thực hiện bộ phim “Thầu Chín ở Xiêm” tái hiện quãng thời gian hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc tại Xiêm (Thái Lan) với bí danh Thầu Chín. Ngoài ra cũng cần kể đến phim “Vượt qua bến Thượng Hải” của đạo diễn Triệu Tuấn và Phạm Đông Vũ, kể về hoạt động cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vào năm 1934, khi Người vừa thoát khỏi vụ án ở Hồng Kông, đang chuẩn bị cho cuộc hành trình từ Hồng Kông tới Thượng Hải, rồi từ đây tìm đường sang Liên Xô...

Những tác phẩm điện ảnh về Bác thời gian qua cho khán giả thấy được tài năng, phẩm chất và bản lĩnh của vị Cha già kính yêu của dân tộc được nung nấu ngay từ khi còn là chàng trai trẻ mang trong mình khát vọng, hoài bão lớn lao, đó là giải phóng dân tộc, cứu nước, cứu dân; rồi những suy tư, trăn trở trước sự lựa chọn con đường đấu tranh, nếu theo các vị tiền bối thì sẽ lại rơi vào bế tắc, thất bại. Và chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành quyết chí dấn thân tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, dẫn dắt Nhân dân làm cuộc cách mạng tự giải phóng cho dân tộc mình. Cùng đó, nhiều tác phẩm đã khắc họa tài năng, bản lĩnh và phẩm chất tuyệt vời nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Tiếp nối những thành công và dấu ấn đậm nét đã có, các nghệ sĩ điện ảnh vẫn nỗ lực sáng tạo để cho ra đời thêm những tác phẩm mới về hình tượng Bác Hồ. Đặc biệt, kỷ niệm 134 năm ngày sinh Bác Hồ và 113 năm ngày Người ra đi tìm đường cứu nước, Công ty Cổ phần phim Giải Phóng ra mắt bộ phim điện ảnh “Vầng trăng thơ ấu” trên các rạp chiếu cả nước từ ngày 17-5-2024.

Những thước phim trên do đạo diễn – NSƯT Hồ Ngọc Xum dàn dựng dựa trên kịch bản của tác giả Đặng Thị Thanh Bình. Thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với kinh thành Huế qua nhiều giai đoạn. Từ năm 1895 - năm 1901: Nguyễn Sinh Cung cùng cha mẹ và anh trai vào Huế lần đầu tiên. Từ năm 1906 - năm 1909: Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế lần thứ hai, theo học ở trường Tiểu học Pháp - Việt Đông Ba, Trường Quốc học Huế. Bác Hồ sống ở Huế cùng những người thân trong gia đình gần 10 năm, đây là thời gian đặc biệt có ý nghĩa đối với nhận thức khởi đầu của một con người. Người đã sống, lao động, học tập và tham gia các hoạt động yêu nước. Chính nơi đây là mảnh đất góp phần nuôi dưỡng, hun đúc và bước đầu hình thành tư tưởng yêu nước, thương dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để từ đó Người quyết định ra nước ngoài tìm đường “cứu dân - cứu nước”.

Đối với “Vầng trăng thơ ấu”, tác phẩm điện ảnh này chỉ lấy bối cảnh từ năm 1895 đến năm 1901 khi Bác Hồ (tên thời thơ ấu là Nguyễn Sinh Cung) cùng cha mẹ là ông Nguyễn Sinh Sắc, bà Hoàng Thị Loan và anh trai Nguyễn Sinh Khiêm lần đầu tiên vào Huế.  Trong giai đoạn hơn 5 năm sống ở kinh thành Huế, Nguyễn Sinh Cung thấy được nhiều điều mới lạ, nhưng Huế cũng bộc lộ rõ rệt nhất những mâu thuẫn giai cấp về quyền lực, an sinh. Ở Huế, Nguyễn Sinh Cung cũng có cơ hội biết đến quan Thượng thư bộ hình Nguyễn Tuấn là người rất quý mến ông Nguyễn Sinh Sắc; đồng thời kết giao với Anh Thư (dòng dõi trâm anh thế phiệt), Kiệt (con quan Thông ngôn), Hào (con nghệ nhân làm diều tiến vua)... Phim có sự tham gia diễn xuất của nhiều dàn diễn viên tài năng: Trần Việt Bắc, Ngô Lệ Quyên, Phạm Hữu Đại, Lưu Văn An, Bạch Công Khanh, Nguyễn Ngọc Kim Ngân, Ali Quang Khải, Bùi Nguyễn Hoàng Phúc, Nguyễn Hồ Nhật Minh, Trần Đức Tuấn Hùng...

Đạo diễn Hồ Ngọc Xum chia sẻ, kịch bản phim từng giành giải Ba cuộc thi “Sáng tác kịch bản phim truyện điện ảnh năm 2020” do Cục Điện ảnh (Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) tổ chức. Bộ phim có ý nghĩa đặc biệt này đến với ông như một cơ duyên. Ngay khi đọc xong kịch bản phim, đạo diễn Hồ Ngọc Xum rất xúc động và ấn tượng với nhiều chi tiết ở các trang viết và quyết định lên đường đi Huế, Nghệ An để tìm hiểu, khảo sát thực tế. “Phim sẽ phác họa hình ảnh thời niên thiếu của Bác với hình ảnh một thiếu nhi hồn nhiên, bình thường, có không ít trò đùa nghịch như bao bạn bè cùng trang lứa. Ngoài việc bám sát lịch sử với phần cố vấn của các chuyên gia, phim cũng sẽ có những chi tiết hư cấu nhưng đều dựa trên những tư liệu xác đáng và tin cậy”, đạo diễn Hồ Ngọc Xum, chia sẻ.

Hoàng Anh

Phim điện ảnh “Vầng trăng thơ ấu” khắc họa thời thơ ấu của Bác trong lần đầu tiên cùng gia đình vào Huế những năm 1895 đến năm 1901.Phim điện ảnh “Vầng trăng thơ ấu” khắc họa thời thơ ấu của Bác trong lần đầu tiên cùng gia đình vào Huế những năm 1895 đến năm 1901.Phim điện ảnh “Vầng trăng thơ ấu” khắc họa thời thơ ấu của Bác trong lần đầu tiên cùng gia đình vào Huế những năm 1895 đến năm 1901. TÔI GẶP BÁC HÔ TRÊN ĐẤT QUÊ HƯƠNG  Tôi chưa một lần gặp Bác kính yêuNhưng mảnh đất quê tôi… Bác tìm ra, Bác mang về                                sau bao nhiêu máu xương, nước mắt Thế hệ chúng tôi sinh ra, ai cũng có niềm vui trước nhất là gặp Bác Hồ trên mỗi dáng quê hương Muôn vạn cuộc đời trong đời Bác hiện lênBác đồng nghĩa với Non sông – Đất nước “Muôn vàn tình thân yêu tỏa khắp …” (*)Sông núi rộng dài bóng Bác lớn mênh mông Tôi lớn theo những mùa lúa trên đồngMẹ vui với thôn làng ngày đổi mới Mỗi bình minh lên. Mỗi con đường hướng tớiNét nhìn nào, tôi cũng gặp : “Bác kính yêu …” Bác chính là nguồn cội cao siêuNgười mở bến dẫn ta về biển lớnMột tia nắng gọi cả bình minh đến Một cánh buồm mang biển cả đi xa Tháng Năm về trong nắng đẹp bao laTôi gặp Bác trong hình hài non nướcNgười mở đường xuân, dẫn đường lên phía trước    Người hóa thành Mặt trời tôi gặp, mỗi ngày lên…                                                  HOÀNG YẾN BÁC HỒ KÍNH YÊU  Một lối sống ung dung, giản dịLà tấm gương cao quý sáng ngời Chúng con học Bác đời đời Kiệm, cần, liêm, chính, tuyệt vời phẩm nhân  Nghĩ về Bác trong ngần hình tượngMắt như sao thẳng hướng núi sông Ánh hào quang rạng mênh mông Trán cao, râu bạc, tấm lòng đầy hoa  Bữa cơm bắp, tương cà, mắm muốiCháo bẹ, măng, cá suối đơn sơHang sâu, lán nhỏ dệt thơ Thép nung rắn rỏi hòa bờ tre xanh Người lãnh tụ mong manh áo vảiĐôi dép sờn vượt ải gian nanBa Đình khắc mãi chữ vàngTên Hồ Chủ tịch với ngàn kính yêu.                                                                       Lê Thị Ngọc Nữ  Tản vănLỘI DỌC BIỂN QUÊ  Chân mây xanh vời vợi, nắng hửng nhẹ, gió đầu mùa êm ái vắt ngang cánh đồng lúa đương thì con gái. Cửa biển quê tôi, nơi có con sóng dạt dào ngày đêm không ngủ, tiếng cồn gọi mỗi lúc gà gáy canh ba. Để rồi mai này đi xa, tôi nhớ về biển, lội dọc thênh thang đồng bãi quê mình. Khoảng lặng trong tôi cứ lớn dần theo ồn ào sóng vỗ mà chẳng phải tịch liêu. Thuở lên chín, lên mười ấy tôi chạy miết trên gò cát, lăn dài trên gò cát. Cát nhiều lắm, trắng phau phau. Cát nằm êm êm phủ lớp lên nhau mà thông thống gió. Gió lồng lộng. Gió đủ sức thổi đứa trẻ tôi có lúc nghiêng ngả, ngã nhào, khuỵu xuống. Cát níu tôi lại bằng bàn chân ngập lún không cần giữ thăng bằng, như bàn tay mẹ dắt tôi qua ngần ấy tháng năm. Cát hiền hòa, êm ái chảy lọt kẽ tay tôi. Những lần tôi ra đây bắt ốc hay những lần đón mẹ đi biển chưa về tôi làm bạn với cát, với gió. Cách đó không xa là đồn biên phòng với cả rừng thông xanh vi vút. Mẹ tôi mỗi lần đi bãi bắt cá luôn lấy đó làm dấu mốc để lội dọc biển trở về với thân đê ngoằn ngoèo quen thuộc. Tôi thích ngắm nhìn đàn bò, đàn dê được chăn thả ven đó. Bình yên quá đỗi. Tôi dư giả thời gian để cựa mình trên cát, vốc cát mơ màng nhìn ngắm biển rộng, trời cao. Nắng cũng đã trưa đỉnh đầu, tôi chạy lên gò cát giở cơm nắm đã nén chặt bằng quả trứng vịt ra ăn. Chao ôi, ngon đến lạ thường. Cát, nắng, gió cũng theo đó quẩn quyện. Chả trách khi lớn lên, bươn chải với đời cứ nhớ, cứ thương vị quê quyện lấy mùi đất đồng, gò bãi.Vẫn ngược chiều gió thổi tôi ngược về tuổi thơ ngậm nắng, hong gió lúc hương hoa bần thơm thoang thoảng, rộng khắp. Trái bần chín hay còn ương cả tháng năm tuổi nhớ nén chặt bầu ngực tâm tình. Thứ quả chỉ nhìn thôi đã chảy nước. Tôi đã từng đi lạc trong rừng bần. Cái cảm giác hoảng hốt khi quay đi nhìn lại chỉ thấy một mình đang mướt mải, ham hố hái trái mà quên mất đứa em con chú dẫn đường đã đi đâu khiến tôi sao có thể quên được. Tôi lần theo dấu chân đê mà đi. Con đê cõng cả tháng năm bão bùng thuở ấy. Đó là con đê dài hàng chục cây số mà không chỉ có rừng thông, rừng bần, bãi cát phẳng lì, bãi cỏ nôn nao sền sệt mà cách đó một đoạn người ta quây đồng nuôi trồng thủy hải sản. Có lần mải miết ngâm mình dưới nước vớt rau câu lên thuyền không may bị cá hói đâm vào đầu ngón tay. Tôi điếng người, tê buốt cả cánh tay như điện giật. Đó là chưa kể những khi mò mẫm dưới nước để vơ lấy từng cụm rau câu rậm rạp - thứ rong biển hợp với mỡ màu phù sa và là nơi trú ngụ của sinh vật phù du, tay tôi quờ vào càng cua tóe máu. Đầm vào mùa thu hoạch có biết bao cua cá ở dưới lớp rau câu mà chỉ cần không may quờ trúng là bị thương như chơi. Nhưng đó lại là kỷ niệm tuổi thơ không dễ gì có được. Những trải nghiệm với đồng, với bãi cứ theo tôi mơ màng cả trong giấc ngủ.Biển quê tôi đã lùi xa, xa lắm. Người ta quai đê, lấn biển, mở ra nhiều vùng kinh tế mới. Những con đê nhỏ trong làng mà ngày ấy tôi từng qua giờ đã san phẳng thấp xuống, trải nhựa phẳng lì. Tôi vẫn men theo triền đê tìm kỷ niệm ngày nào, lội dọc những tháng năm có dấu chân, nụ cười tôi ở đó. Mùi rau câu vẫn đâu đây xộc lên mũi giữa trưa hè nắng oi ả. Hương bần chín thơm dậy lên làm chảy nước miếng. Và cả ngọt bùi thơ bé cơm nắm muối vừng giữa bao la nắng gió đậu ram ráp gò má, tóc hung. Tôi lội dọc thương nhớ những tưởng như mình đang cầm nắm trên tay nào mùi, nào vị mặn mòi bãi bồi, biển cả. Dương Thắng